10-3-2017

Việt Nam có bao nhiêu triệu phú di cư?

(Tài chính) - Câu hỏi trên được Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam đặt ra trước hội thảo “Kịch bản Kinh tế Việt Nam 2017”, ngày 9/3.

Tại hội thảo, TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam nhấn mạnh đến cuộc di cư của các triệu phú trên toàn cầu khi mà số lượng của 2015 chỉ là 64.000 đến 2016 đã tăng lên 82.000.

Con số cụ thể hơn, năm 2016 khoảng 11.000 triệu phú di cư tới Australia, điểm đến số 1 của triệu phú di cư.

Mỹ xếp thứ hai với 10.000 triệu phú đến, Canada thứ ba với thêm 8.000 triệu phú nhập cư.

Ngược lại, một số quốc gia ngày càng kém hấp dẫn giới triệu phú, khiến họ phải di cư sang nước khác. Trong đó, Pháp là quốc gia đứng đầu, năm 2016 có khoảng 12 ngàn triệu phú di cư khỏi Pháp.

Xếp ngay sau là Trung Quốc với 9.000 triệu phú đi mất, kế đến là Brazil với 8.000 triệu phú chuyển ra nước ngoài sinh sống.

Cũng đặt vấn đề trên với Việt Nam, TS Trần Đình Thiên hỏi: "Việt Nam có bao nhiêu triệu phú di cư?

Theo ông Thiên, đây là chỉ báo rất có ý nghĩa, vì theo ông biết ngoài dòng tiền đầu tư ra nước ngoài một cách chiến lược, có ý đồ mang lại lợi ích cho đất nước và cho doanh nghiệp thì cũng có luồng tiền di chuyển như cuộc di cư của các triệu phú nói trên.

Đó là một cảnh báo, ông Thiên nhấn mạnh.

Người Việt chuyển 7,3 tỷ USD ra nước ngoài

Ở một diễn biến khác, báo cáo kinh tế Việt Nam quý I/2016 do Viện Nghiên cứu Kinh tế & Chính sách (VEPR-VietnamCentre for Economic and Policy Research) công bố ngày 12/4 dẫn lại số liệu thống kê đến quý III/2015 cho biết, cán cân thanh toán đã có những diễn biến bất thường sau sự kiện Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ trong tháng 8/2015.

Cán cân tổng thể chuyển từ trạng thái cân bằng sang thâm hụt lớn 6,6 tỷ USD trong quý III/2015, chủ yếu do cán cân tài chính đổi chiều.

Đáng chú ý, 2 cấu phần quan trọng nhất của các cân tài chính là dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài không có sự biến động đáng kể.

Tuy nhiên, một nhân tố mới xuất hiện là dòng vốn đầu tư khác mà cấu phần chủ yếu là tiền gửi ở nước ngoài, gia tăng đột biến lên mức 7,3 tỷ USD.

Đáng nói, cùng thời điểm này trạng thái ngoại hối của hệ thống ngân hàng thương mại không có sự biến động quá lớn.

"Đây là diễn biến bất thường", Infonet dẫn lời ông Nguyễn Đức Thành nói và nhấn mạnh, "diễn biến bất thường này, một phần, có thể xem như tình trạng "bẫy thanh khoản" với ngoại tệ của hệ thống ngân hàng.

Lãi suất huy động và cho vay USD vốn ở mức thấp, cộng với kỳ vọng tỷ giá USD/VND tăng lên sau sự kiện Trung Quốc phá giá, khiến thị trường không tìm được mức lãi suất cho vay ngoại tệ cân bằng".

Hệ quả, ngân hàng thương mại không tìm được đầu ra cho dòng vốn tiết kiệm ngoại tệ nên gửi tiền không kỳ hạn/kỳ hạn ngắn ở ngân hàng nước ngoài là giải pháp sinh lợi tối ưu nhất.

Trên cơ sở này, dòng tiền gửi ở nước ngoài có thể tiếp tục gia tăng trong giai đoạn tới, do chính sách hạ lãi suất huy động USD về 0%/năm và hạn chế đối tượng vay vốn ngoại tệ.

Việc dòng tiền của Việt Nam bị chảy ra nước ngoài từng được Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên chuyên viên cao cấp của Liên hợp quốc nghiên cứu và phân tích.

Là một chuyên gia về thống kê và băng chính phương pháp thống kê, Tiến sĩ Vũ Quang Việt chỉ ra một con số giật mình, trong vòng 6 năm (2008-2013), 33 tỷ USD của Việt Nam đã bị chảy ra nước ngoài không hợp pháp.

Mức chảy ra ngoài tăng mạnh từ sau năm 2008. Năm 2009, số tiền chảy ra nước ngoài trên 9 tỷ USD, từ năm 2010 có giảm xuống nhưng lại ngày càng tăng và đạt mức gần 9 tỷ năm 2013 .

Vị chuyên gia giải thích, đằng sau con số ấy là nhập lậu và có dấu hiệu tham nhũng. Cụ thể, Việt Nam đang gặp hai vấn đề :

Thứ nhất, là việc chuyển ngân lậu có thể chủ yếu là để nhập lậu từ Trung Quốc. Nhập lậu này rất lớn và ngày càng lớn. Nhập lậu được tính bằng cách lấy số xuất sang Việt Nam theo báo cáo của Hải quan Trung Quốc trừ số nhập được Việt Nam báo cáo chính thức qua hải quan. Nhập lậu ngày càng tăng đang là mối đe dọa lớn cho nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt có khả năng làm phá sản sản xuất của nông dân và doanh nghiệp nhỏ.

Thứ hai là tình hình làm ăn phi pháp ở Việt Nam có vẻ ngày càng tăng, và điều này có thể đã được chứng tỏ bằng việc chuyển tiền trở về nước ngày càng lớn qua dạng kiều hối. Lý do là vì, khả năng kiều bào chuyển tiền về nước cho gia đình cao như hiện nay là khó tin, hay nói rõ ra là không thể. Tất nhiên đem tiền về là tốt, nhưng việc một xã hội tạo cơ hội cho việc làm giầu bất chính là điều khó lòng chấp nhận.

Thái An



10-3-2017

Lý giải kiều hối tăng mạnh và 33 tỷ USD "xuất ngoại"

(Tài chính) - TS Vũ Quang Việt cho rằng 33 tỷ USD của VN đã bị chảy ra nước ngoài không hợp pháp, lý do là nhập lậu và có dấu hiệu tham nhũng.

LTS: Là một chuyên gia về thống kê và bằng chính phương pháp thống kê, TS Vũ Quang Việt, nguyên chuyên viên cao cấp của Liên hợp quốc, đã chỉ ra một con số giật mình, 33 tỷ USD của Việt Nam đã bị chảy ra nước ngoài không hợp pháp chỉ trong vòng 6 năm qua. Phía sau con số ấy, theo TS Vũ Quang Việt là nhập lậu và có dấu hiệu tham nhũng. Báo Đất Việt xin giới thiệu bài viết:

Con số 33 tỷ USD của Việt Nam chảy ra nước ngoài không hợp pháp từ năm 2008 đến năm 2013 là có thật, và đặc biệt là mức chảy ra ngoài tăng mạnh từ sau năm 2008. Năm 2009, số tiền chảy ra nước ngoài trên 9 tỷ USD, từ năm 2010 có giảm xuống nhưng lại ngày càng tăng và đạt mức gần 9 tỷ năm 2013 . Đây là con số tính được từ bản cân đối thanh toán với nước ngoài .

Giải thích về cách tính

Trong bảng cân đối thanh toán quốc tế, phần mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể nắm được chính xác là số ngoại tệ được dùng làm dự trữ ngoại tệ, tức là tiền và gần như tiền, mà NHNN có thể nhanh chóng chuyển thành tiền, để sử dụng bất cứ lúc nào nhằm tác động tới hối suất trên thị trường.

Tiền nằm trong tay NHNN (X) là tổng số ngoại tệ nhận được từ nước ngoài (X1) trừ đi tiền chuyển ra nước ngoài một cách hợp pháp (X2). X= X1-X2. Nếu có chu chuyển bất hợp pháp thì X=(X1- X2) + Y. Nếu Y là âm thì đó là tiền chuyển ra nước ngoài bất hợp pháp, và nếu là dương thì là tiền chuyển vào bất hợp pháp. Các trao đổi hợp pháp quốc tế được phản ánh trong các thanh toán hợp pháp và được ghi lại trong bảng cán cân thanh toán quốc tế.

Khi các thông tin về X1 và X2 không chính xác mà chỉ có X là chính xác, thì Y là sai số. Trong việc tính toán cán cân thanh toán, sai số ở mức 3-5% là thường tình, và nếu là sai số thì có tính bất định, khi dương khi âm. Nhưng khi sai số chỉ là số âm và lại rất lớn thì không thể không nghĩ đến tình trạng chuyển ngoại tệ ra nước ngoài bất hợp pháp. Đây là tình trạng của Việt Nam.

Phân tích kết quả

Trong trao đổi ngoại tệ với nước ngoài và trong điều kiện của Việt Nam, ngoại tệ được chuyển ra nước ngoài bao gồm các khoản dùng để nhập khẩu, trả lãi và trả nợ; còn ngoại tệ chuyển vào VN là tiền nhận được từ xuất khẩu, từ đầu tư trực tiếp để sản xuất và gián tiếp vào thị trường cổ phiếu, từ vay mượn qua trái phiếu và nợ nước ngoài, từ viện trợ và nhất là từ người Việt cư trú hoặc xuất khẩu lao động gửi về. Để đơn giản hóa trong phần trình bày, bảng 1 chỉ ghi giá trị ròng, thí dụ cán cân ngoại thương về hàng hóa là xuất khẩu trừ nhập khẩu. Số dương chỉ lượng tiền chuyển vào trong nước, số âm chỉ lượng tiền chuyển ra nước ngoài.

Cán cân thương mại: Thí dụ năm 2013, xuất siêu hàng hóa là 8.7 tỷ USD (xuất là 132.4 tỷ và nhập là 123.1 tỷ). Còn dịch vụ là -8.7 tỷ USD nhập siêu (xuất là 10.8 tỷ và nhập là -19.5 tỷ). Xuất nhập khẩu bao gồm xuất nhập khẩu vàng chính thức qua hải quan mà có lúc như năm 2008 nhập thuần đến 2,4 tỷ và năm 2011 nhập thuần đến 2 tỷ. Tất nhiên nếu có nhập lậu thì phần này sẽ đi vào sai số. Nhập vàng lớn là vì đồng tiền Việt mất giá và do đó tạo thành tình trạng vàng hóa kinh tế. Tình trạng này coi như chấm dứt vào năm 2012-2013 khi nhập thuần vàng chỉ còn dưới 40 triệu. Ngoài ra là chuyển đô la lậu, điều này thì khó mà biết, nhưng có thể không lớn.

Cán cân thanh toán quốc tế, 2008-2013 (tỷ USD) (Nguồn: Asian Development Bank, Key Indicators for Asia and the Pacific 2014, bảng về Việt Nam, số liệu do VN cung cấp. Số liệu về chi tiết hơn cho năm 2013 có thể xem thêm trên website của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nhập lậu từ TQ dựa vào số liệu của UN Comtrade Database.)

Chuyển giao vãng lai: Chuyển giao vãng lai (còn gọi là chuyển giao hiện hành) ở VN chủ yếu là tiền người Việt cư trú ở nước ngoài gửi về nước (thường gọi là kiều hối) cho gia đình. Kiều hối tăng mạnh từ sau năm 2006 và năm 2013 đạt 8.9 tỷ (coi hình 2). Con số này thấp hơn con số 11 tỷ mà báo chí Việt Nam đưa ra, dù là dựa vào thông tin của Ngân hàng Thế giới (NHTG). Số liệu do NHTG ghi chú là nguồn là từ VN và IMF, nhưng khác hẳn con số của VN ở trên và khó tin. Thật ra kiều hối từ nguồn VN hay NHTG cũng đều khó tin, và rất có thể chúng không chỉ gồm kiều hối mà còn gồm cả tiền không chứng minh được nguồn gốc gửi về để rửa.

Lý do tiền gửi về cho gia đình không chỉ là kiều hối có thể giải thích như sau: Người Việt ở nước ngoài gồm khoảng 3 triệu kiều dân, trong đó 1.3 sống ở Mỹ. Theo nguồn tin phỏng vấn một chuyên viên cao cấp của Western Union ở Hà Nội và đăng trên mạng của Bộ Ngoại giao, lao động nước ngoài là 400 ngàn và gửi về khoảng 1.6 tỷ.

Còn nguồn khác, lao động là 825 ngàn. Thông tin của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì số lao động là 500 ngàn người. Nếu lấy số 500 ngàn và tiền gửi về là 1.6 tỷ và tính trung bình để phân tích thì một lao động nước ngoài gửi về 3,200 USD một năm. Một con số có thể tin được. Số còn lại, của 8,9 tỷ là do 3 triệu Việt kiều sống vĩnh viễn ở nước ngoài gửi về, như vậy họ phải gửi trung bình một người là 2,000 USD một năm, và một gia đình có 3 người trung bình gửi về 6,000 USD một năm là điều khó tin. Dùng số liệu của NHTG thì lại càng khó tin hơn.

Hình 2 cho thấy số liệu về kiều hối từ năm 2000 đến 2013. Kiều hối tăng đột biến (63%) năm 2007 sau khi Việt Nam tham gia WTO và có giảm xuống khi kinh tế khủng hoảng năm 2008, nhưng sau đó lại tăng trở lại.

Tại sao tiền gửi về không thể toàn là kiều hối và đâu là nguồn gốc?

Có người lý luận rằng kiều hối tăng cao như thế là để ăn chênh lệch lãi suất vì do lạm phát cao trong giai đoạn 2008-2012, lãi suất ở VN cao hơn ở nước ngoài trong khi đó hối suất ở VN lại ổn định. Điều này chỉ là lý luận cho vui, không dựa vào một điều tra nào cả. Sự thật mà ai cũng biết là rủi ro đồng tiền VN mất giá là rất cao, khó lòng tiên đoán, nhưng quan trọng hơn là không dễ chuyển lại tiền trở ra nước ngoài dù có lãi lớn: vậy lợi ích của người đầu cơ là ở đâu? Ngoài ra còn thêm một lý do có thể dùng để bác bỏ lập luận trên là tiền chuyển vào VN vẫn tiếp tục tăng trong năm 2013, và ở mức cao, dù chênh lệch lãi suất đã xuống vì lạm phát giảm và khó khăn kinh tế ở VN.

Như thế, dù không có bằng chứng, người viết bài này cho rằng lý do làm sạch tiền không rõ nguồn gốc có lẽ là hợp lý nhất. Khi làm ăn bất chính, cách đơn giản để các công ty nước ngoài liên quan đến đầu tư trực tiếp, hoặc xuất nhập khẩu tạo thế đứng và lợi nhuận là tăng chi phí phải trả cho phía VN, một phần chi phí này được lại quả cho những người có trách nhiệm liên quan đến các hợp đồng này qua việc thiết lập tài khoản cho họ ở nước ngoài. Những người này tất nhiên muốn chuyển tiền về VN, và đơn giản nhất là dùng hình thức kiều hối.

Tóm lại, dù có lượng “kiều hối” gửi về lớn, nhưng nền kinh tế VN đang có tình trạng tiền chuyển bất hợp pháp ra nước ngoài rất lớn, lên tới gần 9 tỷ USD năm 2013 và tổng số là 33 tỷ kể từ năm 2008. Vậy nguyên nhân là từ đâu? Có thể có hai lý do chính để giải thích việc chuyển ngân bất hợp pháp nói trên. Một là giới nhà giầu chuyển ngân lậu ra nước ngoài. Hai là tiền chuyển ra nước ngoài chủ yếu là để chi trả cho nhập lậu từ Trung Quốc. Chuyển ngân lậu bằng cách đem tiền ra là rất khó. Có lẽ lý do chính là để trả cho nhập lậu từ TQ.

Kết luận

Bài này chủ yếu nhằm vào việc tính và giải thích tình hình chuyển ngân lậu ra nước ngoài, nhưng cũng đưa đến việc cần phải lý giải hiện tượng kiều hối ngày càng lớn và càng tăng. Như thế ta thấy VN đang gặp hai vấn đề.

Vấn đề thứ nhất là việc chuyển ngân lậu có thể chủ yếu là để nhập lậu từ Trung Quốc. Nhập lậu này rất lớn và ngày càng lớn, đặc biệt là từ năm 2008 đến nay, đạt mức 11.7 tỷ năm 2013 (coi bảng 1), lên đến 10% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam. Nhập lậu được tính bằng cách lấy số xuất sang Việt Nam theo báo cáo của Hải quan Trung Quốc trừ số nhập được Việt Nam báo cáo chính thức qua hải quan. Nhập lậu ngày càng tăng đang là mối đe dọa lớn cho nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt có khả năng làm phá sản sản xuất của nông dân và doanh nghiệp nhỏ.

Vấn đề thứ hai là tình hình làm ăn phi pháp của người có quyền ở Việt Nam có vẻ ngày càng tăng, và điều này có thể đã được chứng tỏ bằng việc chuyển tiền trở về nước ngày càng lớn qua dạng kiều hối. Lý do là vì, như đã tính toán, khả năng kiều bào chuyển tiền về nước cho gia đình cao như hiện nay là khó tin, hay nói rõ ra là không thể. Tất nhiên đem tiền về là tốt, nhưng việc một xã hội tạo cơ hội cho việc làm giầu bất chính như thế là điều khó lòng chấp nhận.

Vũ Quang Việt



10-3-2017

Thấy gì từ những cái chết lãng xẹt ở một số bệnh viện tư

Cái chết thương tâm của 2 bệnh nhân ở BVĐK Trí Đức ở Hà Nội còn nhiều nghi vấn chưa kịp lắng xuống, nay lại thêm một vụ chết não của thiếu phụ ở Phòng khám 168 Hà Nội làm dư luận thật sự lo ngại. Và không chỉ là 2 sự cố này. Vậy chúng có điểm chung gì và vẫn còn đó những câu hỏi vẫn chưa được trả lời thỏa đáng?

Điểm chung của những cái chết tức tưởi

Trong những sự cố chúng tôi sẽ điểm lại, các bệnh nhân này đều điều trị những bệnh rất thông thường, kể cả đi thẩm mỹ viện cũng bị tử vong. Nhìn lại các bệnh nhân bị tử vong ở một số phòng khám, bệnh viện tư nhân (gọi chung là phòng khám tư) chỉ riêng ở Hà Nội, cũng đủ khiến chúng ta giật mình.

Chúng tôi nói tức tưởi, xót đau bởi bệnh nhân đều không bao giờ nghĩ họ sẽ bị chết lúc đi chữa những bệnh “ngoài da” như vậy. Chẳng hạn, chị T. đang mang thai 21 tuần bị chết não khi đi điều trị viêm âm đạo ở phòng khám 168 Hà Nội (Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì) – cái kết cục chẳng ai nghĩ đến.

Vô lý hơn, tại BVĐK Trí Đức, trong vòng 20 phút, hai người cùng bị chết khi mới bắt đầu gây mê để thủ thuật căn bệnh không phức tạp: Cắt amidan và phẫu thuật tuyến giáp; Lãng xẹt hơn, một bệnh nhân chỉ vì đi thắt búi trĩ ở Phòng khám Năm Châu (số 709 đường Giải Phóng, quận Hoàng Mai, Hà Nội) cũng bị tử vong. Thậm chí, chị H. đến thẩm mỹ viện Cát Tường (cũng trên đường Giải Phóng) để hút mỡ, nâng ngực cũng bị chết. Đau đớn hơn, để trốn tránh trách nhiệm, bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường còn mang xác chị H. vứt xuống sông Hồng! Cũng là đi thẩm mỹ viện, cũng ở đường Giải Phóng (số 257), chỉ sau hơn một tiếng sau mổ, thấy khó thở, bị nôn, chị Lộc báo ngay cho bác sĩ nhưng vẫn không qua khỏi…

Chúng tôi không thể liệt kê tất cả những cái chết tức tưởi này, chỉ biết rằng, tất cả những nạn nhân này đều chết lãng xẹt bởi một số nguyên nhân ... mà các cơ quan chức năng đều biết.

Thứ nhất, lúc gặp sự cố nguy hiểm, tất cả những phòng khám tư này đều không đủ khả năng cấp cứu. Do đó, hoặc bệnh nhân chết trên đường đến bệnh viện công cấp cứu, hoặc đến nơi thì tình hình đã nguy kịch, không phương cứu chữa. Thậm chí đã chết nhưng vẫn được mang đi cấp cứu nhằm né tránh trách nhiệm.

Thứ hai, hầu hết các phòng khám này đều thiếu bác sĩ cơ hữu đúng chuyên khoa được đăng ký khám chữa bệnh. Bởi, tình trạng một số bác sĩ cùng lúc đứng tên ở vài phòng khám là không hiếm. Mượn tên tuổi đó, nhiều phòng khám dễ dàng qua mặt các cơ quan chức năng!

Thứ ba, một số phòng khám này còn điều trị cả những bệnh mà mình không được phép chữa trị. Ai cũng biết, đây là điều rất nguy hiểm, nhưng nó vẫn tồn tại. Phòng khám 106 Hà Nội vừa gây cho chị T. bị chết não là một ví dụ.

Những câu hỏi chưa có câu trả lời thỏa đáng?

Những cái chết từ … bác sĩ giáng xuống, không chỉ gây sốc dư luận, mà nhiều khi lại làm “nóng” công luận hơn bởi một số cơ quan chức năng. Do đó, dư luận có quyền đưa ra một số câu hỏi.

Thứ nhất, liệu nguyên nhân cái chết của bệnh nhân đưa ra đã đúng chưa? Dư luận và người nhà 2 bệnh nhân bị chết ở BVĐK Trí Đức khó có thể tin, trong vòng 20 phút, ở cùng một bệnh viện, một nam, một nữ đều ở tuổi còn trẻ lại có thể cùng bị “sốc phản vệ” tới mức bị chết nhanh như thế. Tỷ lệ để hai người cùng gặp một sự cố “sốc phản vệ” vào cùng một thời điểm và cùng một địa điểm là cực kỳ hiếm. Nhưng ngay ngày hôm sau sự cố thương tâm này, khi chưa khám nghiệm tử thi, bà Trần Thị Nhị Hà – Phó giám đốc Sở Y tế Hà Nội – đã đưa ra tiên lượng (theo BVĐK Trí Đức và BV Bạch Mai) nguyên nhân là sốc phản vệ ?!

Thứ hai, khi để xảy ra các sự cố này, các cơ quan chức năng đã làm tròn trách nhiệm của mình chưa? Nếu những ai đã từng tìm hiểu ở các bệnh viện tư đều thấy, không ít BV mang tiếng là đa khoa, nhưng thực tế không đủ bác sĩ cơ hữu cho các chuyên khoa. Do đó, bác sĩ chuyên ngành A có thể khám, kê đơn cho đủ các chuyên ngành là chuyện không hiếm. Có thể, bệnh nhân không tử vong, nhưng kết quả chữa bệnh khó mà hiệu quả, đó là chưa kể để lại hậu quả xấu, trước mắt là tiền mất, bệnh chưa chắc khỏi, có khi lại sinh thêm bệnh vì trị bệnh không đúng.

Trong 3 năm vừa qua, cơ quan chức năng liên tiếp phát hiện các sai phạm của Phòng khám đa khoa 168 Hà Nội như nhập khẩu thuốc và thiết bị y tế nhưng không chứng minh được nguồn gốc, quảng cáo dịch vụ ngoài phạm vi chuyên môn được phép, sử dụng máy móc chưa được phép lưu hành… Nhưng vì sao phòng khám này vẫn ngang nhiên hoạt động và làm xảy ra sự việc đau lòng trên?



10-3-2017

Công nghiệp Việt Nam “chưa giàu đã già”

Nội lực yếu, phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phát triển thiếu chiều sâu, chưa có chính sách tổng thể, dài hạn... là những căn bệnh trầm kha của ngành công nghiệp Việt Nam

Ngày 10-3, Ban Kinh tế trung ương phối hợp với Bộ Công Thương tổ chức hội thảo khoa học quốc tế “Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035”. Hội thảo có sự tham dự của nhiều lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, doanh nghiệp (DN) và chuyên gia đến từ hơn 20 tổ chức quốc tế.

Trình độ thấp, nội lực yếu

Chủ trì hội thảo, Trưởng Ban Kinh tế trung ương Nguyễn Văn Bình cho rằng các chính sách chung và chính sách ngành trong lĩnh vực công nghiệp thời gian qua đã có tác động tích cực đến sự phát triển của công nghiệp Việt Nam hơn 30 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm trở lại đây.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Bình cũng nêu rõ hàng loạt yếu kém: ngành công nghiệp còn ở trình độ thấp, chủ yếu phát triển theo chiều rộng; nội lực yếu, phụ thuộc nhiều vào DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI); sự liên kết giữa DN FDI với DN trong nước còn hạn chế, tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đang giảm, ở giai đoạn 2006-2010 đạt 16,2% nhưng đến giai đoạn 2011-2015 chỉ còn 10%. Công nghiệp tập trung chủ yếu là khai khoáng, lao động giá rẻ, ít ngành công nghệ cao; tốc độ tăng năng suất lao động thấp (thấp hơn Malaysia và Thái Lan 6,4 lần, thấp hơn Philippines 3,6 lần).

“Nước ta không tận dụng tốt lợi thế dân số vàng, đang đối diện với nguy cơ hậu công nghiệp hóa quá sớm. Việt Nam chưa có chính sách công nghiệp tổng thể, dài hạn. Chúng ta thiếu các chính sách cụ thể, ưu tiên nguồn lực để theo đuổi nhất quán mục tiêu đề ra” - ông Nguyễn Văn Bình thẳng thắn.

GS kinh tế Trần Văn Thọ (ĐH Waseda - Nhật Bản) nhận xét: “Công nghiệp Việt Nam chưa giàu đã già, chuyển qua hậu công nghiệp quá sớm. Chuyển sang hậu công nghiệp sớm thì tốc độ phát triển kinh tế giảm”. Ông Thọ dẫn ví dụ, tại Hàn Quốc, Nhật Bản khi thu nhập bình quân đầu người 30.000 USD/năm thì tỉ lệ công nghiệp/GDP mới bắt đầu giảm. Trong khi Việt Nam thu nhập mới 3.000 USD đã chuyển sang hậu công nghiệp.

TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright tại TP HCM, đánh giá trong khi thế giới đã tiến tới ngưỡng cửa của cuộc cách mạng công nghiệp 4 thì công nghiệp Việt Nam đang “mắc kẹt” ở giai đoạn cách mạng lần thứ 2, nghĩa là vẫn ở công đoạn cơ giới hóa, lắp ráp. “Những sản phẩm của Intel hay Samsung được xếp vào nhóm công nghệ cao nhưng DN nội chưa đóng góp gì trong nhóm này khi mới chỉ tham gia 3%, dừng ở mức cung cấp vỏ hộp, bao bì” - TS Tự Anh bình luận.

Ưu tiên máy móc và công nghiệp thực phẩm

Góp ý cụ thể, GS Trần Văn Thọ cho rằng 2 lĩnh vực Việt Nam cần chú trọng phát triển là các loại máy móc (xe hơi, xe máy, máy in, máy công cụ, máy tính…) và công nghiệp thực phẩm chế biến từ nông, thủy sản mà Việt Nam có nguồn cung cấp phong phú. Về các loại máy móc, nhu cầu thế giới ngày càng lớn vì vậy, Việt Nam cần nghiên cứu và tạo điều kiện để DN FDI nâng chất lượng sản phẩm. Khi thu nhập tăng 1% thì chi tiêu máy móc tăng 2%-3%.

Theo ông Thọ, Việt Nam cần tận dụng quốc gia có 100 triệu dân là sức mạnh lớn để đẩy mạnh công nghiệp hóa cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Cụ thể, cần tập trung đào tạo nhân lực công nghệ cao, thích ứng thay đổi công nghệ. “Nhưng đừng chú trọng bậc học, bằng cấp. Đổ xô vào ĐH là không nên. Lao động chất lượng cao chỉ cần học cao đẳng 2 năm, 1 năm học văn hóa, 1 năm chuyên môn là có thể đi làm được” - ông Thọ lưu ý.

“80% người giàu nhất Nhật Bản là làm công nghiệp, còn hầu hết các DN lớn nhất Việt Nam hiện nay chỉ làm bất động sản thì không thể công nghiệp hóa thành công được. Vì vậy, Chính phủ nên đối thoại với các tập đoàn lớn để biết cần có chính sách gì khuyến khích họ mở rộng sang sản xuất công nghiệp và nâng cao diện sản xuất” - GS Trần Văn Thọ nói.

TS Vũ Thành Tự Anh góp ý nếu theo đuổi cách tiếp cận lựa chọn ngành công nghiệp mục tiêu như hiện nay thì phải được thực hiện một cách thật bài bản, kỹ lưỡng và thận trọng; phải dựa trên các nguyên tắc: thuận theo lợi thế so sánh của Việt Nam; ngành ưu tiên phải tạo ra tác động lan tỏa trong nền kinh tế; là ngành đang có tốc độ tăng trưởng cao trên thị trường nội địa hoặc thế giới...

“Lái” DN FDI vào chính sách công nghiệp quốc gia

TS Tuệ Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, kiến nghị chính sách công nghiệp giai đoạn tới phải chuyển sang hướng ưu tiên những ngành có khả năng cạnh tranh và cần có chủ đích chứ không thể chạy theo số lượng. Cùng với đó, chiến lược thu hút DN FDI cần nhanh chóng thay đổi cách tiếp cận theo hướng lựa chọn những DN, mặt hàng hỗ trợ hoặc “lái” họ vào chính sách công nghiệp quốc gia.

“Có như thế thì mới mong DN trong nước tham gia được chuỗi sản xuất của DN FDI. Phải lấy mục tiêu cuối cùng của chính sách công nghiệp là nâng cao năng lực DN trong nước, nếu không DN Việt Nam sẽ không đủ năng lực tiếp thu công nghệ, mãi mãi đứng ngoài chuỗi liên kết toàn cầu”- TS Tuệ Anh bày tỏ.

Thế Dũng



10-3-2017

Thai phụ chết não khi khám phụ khoa, bác sỹ Trung Quốc “mất tăm“

Sáng ngày 7.3, khi Thanh tra Sở Y tế Hà Nội đến làm việc với Phòng khám 168 Hà Nội về vụ việc thai phụ Trần Thị Thu T bị hôn mê sau khi khám phụ khoa tại phòng khám này thì vị bác sỹ người Trung Quốc Trịnh Túc Vinh - người đã trực tiếp khám cho chị T đã "không thấy tăm tích".

Sáng 7.3, Thanh tra Sở Y tế Hà Nội đã làm việc với phòng khám 168 Hà Nội (Ngọc Hồi, Thanh Trì), nơi điều trị cho chị Trần Thị Thu T (29 tuổi, ở Quảng Ninh) hôm 5.3 và chuyển chị T. đến Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng hôn mê sâu.

Ông Nguyễn Dương Trung, Phó Chánh Thanh tra Sở Y tế Hà Nội cho biết, trong ngày 7.3, ngay sau khi nhận được đơn khiếu nại của gia đình chị T, cơ quan công an huyện Thanh Trì đã tiến hành thu giữ toàn bộ hồ sơ liên quan.

Làm việc với gia đình chị T. sáng ngày 7.3, ông Phương Văn Soạn, đại diện phòng khám, cho biết chị T. đến khám lúc 16 giờ ngày 5.3 Bác sỹ Trịnh Túc Vinh (người Trung Quốc) đã trực tiếp thăm khám và xác định chị T. mang thai 21 tuần và cho rằng chị T. bị viêm âm đạo, có nhiều khí hư, chỉ định xét nghiệm, siêu âm và tư vấn sử dụng máy rung để rửa âm đạo.

Điều dưỡng Nguyễn Quỳnh Mai đưa bệnh nhân sang phòng điều trị và bàn giao cho điều dưỡng Trần Thị Thủy đặt máy khí rung. Tuy nhiên, chỉ 3 phút sau khi bắt đầu sử dụng máy rung thì bệnh nhân khó thở, lên cơn co giật. Khi gọi được bác sỹ Vinh thì bệnh nhân đã sùi bọt mép.

“Bác sỹ Vinh đã hướng dẫn y tá tiêm thuốc an thần chống co giật vào ven tay trái và mông bệnh nhân, rồi gọi 115 chuyển bệnh nhân lên Khoa Cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai”- ông Soạn nói.

Cũng trong sáng nay 7.3, khi Thanh tra Sở Y tế đến làm việc với Phòng khám 168 Hà Nội thì phòng khám cho hay không liên lạc được với bác sỹ người Trung Quốc Trịnh Túc Vinh. Hiện không biết bác sỹ Vinh đi đâu.

Trước đó, tại BV Bạch Mai, anh Quân- người nhà bệnh nhân T cho biết, chị T. đến khám tại phòng khám 168 vì nghi bị viêm nhiễm phụ khoa khi đang mang thai. “Theo thông tin ban đầu chúng tôi nhận được, khi đến khám em tôi mới chỉ được lấy máu, siêu âm 4 chiều và khám phụ khoa. Sau đó khoảng hơn 5 giờ chiều ngày 5.3 thì xảy ra sự việc”, anh Quân cho hay.

Cũng theo anh Quân, khi chị T. chuyển lên Bệnh viện Bạch Mai cấp cứu tên trong hồ sơ không phải tên thật mà là một tên hoàn toàn khác.

“Tôi nghĩ phải có điều gì uẩn khúc vì nếu chỉ khám phụ khoa và siêu âm đơn thuần thì khó có thể dẫn tới co giật, hôn mê như vậy. Em tôi hoàn toàn khỏe mạnh, không hề có tiền sử bị bệnh tim hay động kinh”- anh Quân trăn trở.

Thông tin từ Bệnh viện Bạch Mai cho biết thời điểm bệnh viện tiếp nhận, bệnh nhân T đã rơi vào trạng thái hôn mê sâu. Hiện tại bệnh nhân đã chết não.

Trước sự việc trên, ông Nguyễn Việt Cường – Chánh Thanh tra Sở Y tế Hà Nội cho biết trước mắt, Thanh tra Sở Y tế đình chỉ hoạt động của phòng khám, chờ kết quả điều tra của công an.

Trong 3 năm vừa qua, cơ quan chức năng liên tiếp phát hiện các sai phạm của Phòng khám đa khoa 168 Hà Nội như nhập khẩu thuốc và thiết bị y tế nhưng không chứng minh được nguồn gốc, quảng cáo dịch vụ ngoài phạm vi chuyên môn được phép, sử dụng máy móc chưa được phép lưu hành… Tuy nhiên điều đáng nói là phòng khám trên vẫn ngang nhiên hoạt động và làm xảy ra sự việc đau lòng trên.