8-7-2017

“Quan chức giàu lên khó hiểu xét cho cùng là do lợi dụng quyền lực“

VOV.VN - PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc: “Giàu lên một cách khó hiểu xét cho cùng là do người ta có thể lợi dụng quyền lực để trục lợi”

Qua nhiều vụ việc về khối tài sản của một số cán bộ lãnh đạo, rất nhiều câu hỏi được đặt ra, phải chăng việc thực hiện nghĩa vụ của cán bộ, đảng viên chỉ là hình thức, trách nhiệm này thuộc về ai? Có hay không sự không minh bạch trong kê khai tài sản của cán bộ, công chức? Phóng viên VOV trao đổi với PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng về nội dung này.

“Hiện tượng ở Yên Bái không phải cá biệt”

PV: Ông có thấy ngạc nhiên trước khối tài sản “khủng” của một số cán bộ ở Yên Bái mà báo chí nêu không?

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc: Tôi thực sự ngạc nhiên bởi với chức vụ, trách nhiệm và vai trò của một công chức, nếu chỉ tính thu nhập tiền lương sẽ rất khó có thể có được khối tài sản lớn như vậy. Vấn đề phải tìm ra nguồn gốc của số tài sản đó. Nếu số tài sản đó do sức lao động, do quá trình tích lũy mà có được là đáng hoan nghênh. Nhưng nếu là số tài sản bất minh, theo tôi cần xem xét, xử lý cho thích đáng trên cơ sở pháp luật của Đảng, của Nhà nước, đặc biệt là quy định của Trung ương về kê khai tài sản.

PV: Ông nghĩ sao về việc UBND tỉnh Yên Bái chủ động liên hệ với Thanh tra Chính phủ nhờ hỗ trợ việc xác minh?

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc: Việc kê khai và giám sát kê khai tài sản để phòng chống tham nhũng đã được quy định rất rõ trong luật. Ở cấp nào giám sát cấp đó, trừ những vụ việc thực sự nghiêm trọng, khó giải quyết mới phải chuyển lên cấp trên. Ở cấp nào làm nghiêm túc ở cấp đó rồi sẽ không phải đưa lên cấp trên.

Trong vụ việc này, tôi hiểu có sức ép của báo chí và dư luận nhân dân buộc UBND tỉnh Yên Bái phải vào cuộc. Theo tôi nếu thực sự nghiêm túc, UBND tỉnh Yên Bái có thừa năng lực để xác minh, làm rõ vụ việc này. Việc Thanh tra Chính phủ cử đoàn về Yên Bái cũng là việc cần thiết khi địa phương không giải quyết được phải nhờ tới Trung ương.

PV: Tại Yên Bái, ngoài số tài sản của Giám đốc Sở Tài nguyên-Môi trường Phạm Sỹ Quý, dư luận còn đặt câu hỏi về khối tài sản lớn của 2 Giám đốc Sở nữa. Nếu đó là tài sản bất minh, đã đến lúc cần xem xét lại tư cách đạo đức công vụ của những đảng viên này?

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc: Đúng thế, chúng ta đang thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về phòng chống suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ đảng viên. Nếu có những hiện tượng như vậy buộc phải xem xét, đánh giá đạo đức công vụ, tư cách đảng viên, trách nhiệm của từng cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Tôi cho rằng, hiện tượng ở Yên Bái không phải là cá biệt, nếu xem xét một cách nghiêm túc theo đúng yêu cầu về kê khai tài sản của Luật phòng chống tham nhũng, nếu quan tâm giám sát, kiểm tra một cách chặt chẽ chắc sẽ còn phát hiện được ở nhiều địa phương khác nữa, nhiều ngành và lĩnh vực khác nữa.

Kê khai và giám sát kê khai tài sản: Dễ rất dễ, khó rất khó

PV: Nói về kê khai tài sản, khối tài sản ấy không bé như “con kiến” mà các cơ quan chức năng không nhìn thấy, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc: Chuyện kê khai tài sản của cán bộ lãnh đạo theo tôi là rất dễ nhưng cũng rất khó. Dễ là nếu cả đối tượng phải kê khai và cơ quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát việc kê khai tuân thủ đúng quy định của kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, có thể phát hiện ngay được tài sản nào là chính đáng, là bất minh. Còn nếu không nghiêm túc thì việc này sẽ rất khó.

Theo tôi, có những rào cản, sức ép khiến cho việc kê khai cũng như giám sát kê khai không nghiêm túc: đó là sức ép từ cấp trên khiến việc kiểm tra có thể bị làm cho sai lệch kết quả; sức ép từ bản thân người phải kê khai, không đủ bản lĩnh, trách nhiệm, lương tâm, danh dự để kê khai một cách trung thực; hay rào cản là những mối quan hệ khiến người kê khai phải tìm cách bưng bít, che giấu thậm chí tìm cách để chạy (chạy tội). Đồng tiền có khả năng chi phối ghê gớm khiến việc thanh tra, kiểm tra không đủ độ tin cậy, đó là cơ sở để quần chúng nghi ngờ kết quả đánh giá.

Dẫn tới tình trạng đó, nguyên do là kỷ luật không nghiêm, pháp luật cũng không nghiêm, theo tôi cần phải kiểm soát quyền lực. Những câu chuyện giàu lên một cách khó hiểu xét cho cùng là do người ta có thể lợi dụng quyền lực để trục lợi để có được số tài sản như vậy.

Quyền lực không được kiểm soát sẽ dẫn tới những hệ quả: về mặt chính trị, cán bộ, người ta sẽ dùng quyền lực để bố trí, sắp xếp cán bộ, người nhà, người thân theo ý của họ. Về mặt kinh tế, người ta lợi dụng quyền lực để tạo ra những mối quan hệ, lợi ích nhóm để trục lợi; họ cũng có thể dùng quyền lực để tạo sức ép đối với cấp dưới, với doanh nghiệp, với các đối tượng khác để cung phụng hay tạo ra lợi ích cho người có chức quyền.

Có thể kể ra rất nhiều nguyên nhân từ phía tổ chức quản lý cán bộ, từ bản thân cán bộ lãnh đạo quản lý thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện, bị chủ nghĩa cá nhân chi phối nặng nề… Những nguyên nhân ấy cần phải được tìm ra.

Trong tình hình hiện nay, phải siết chặt kỷ luật và pháp luật của Nhà nước và phải kiểm soát quyền lực. Kiểm soát ở đây là theo hệ thống dọc: cấp trên phải kiểm soát cho được cấp dưới, kiểm soát cả cấp ngang. Ở một địa phương, các tổ chức chính quyền phải kiểm soát được các cán bộ trong phạm vi địa phương mình; phải làm sao cho tất cả các tổ chức mặt trận, đoàn thể, nhân dân có thể giám sát, qua đó mới phát hiện được. Một kênh rất quan trọng nữa đó là báo chí. Vừa rồi, chính cơ quan báo chí đã phát hiện nhiều tiêu cực. Tất cả những “công cụ” phải được làm một cách đồng bộ, nếu không rất khó kiểm soát được quyền lực. Không kiểm soát được quyền lực của cán bộ quản lý sẽ “đẻ” ra rất nhiều tiêu cực.

PV: Xin cảm ơn ông./.



8-7-2017

Đất quốc phòng, ranh giới nào ?

• GS.TSKH ĐẶNG HÙNG VÕ

TTCT- Những ngày qua, vấn đề sử dụng đất quốc phòng thu hút sự quan tâm của người dân. TTCT giới thiệu bài viết của GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường, nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan vấn đề này.

Câu hỏi lớn nhất được đặt ra đối với khung pháp luật về quản lý và sử dụng đất quốc phòng là: mục đích gì được gọi là mục đích quốc phòng?

Tất nhiên câu trả lời không hề đơn giản, vì mục đích quốc phòng khá đa dạng và phức tạp. Ví dụ một đơn vị quốc phòng sử dụng đất để xây dựng nhà máy sản xuất vũ khí thì có đúng mục đích quốc phòng hay không?

Hay một đơn vị quốc phòng sử dụng đất nông nghiệp ở vùng cao, vùng xa, vùng sâu, nơi vắng dân cư vừa để bảo vệ đất nước vừa được thụ hưởng nông sản thì có gọi là cho mục đích quốc phòng hay không?

Vậy nên sử dụng đất vào mục đích quốc phòng hay kinh tế vẫn không thể có một ranh giới thực sự rõ ràng. Luật đất đai (LĐĐ) đã có thay đổi đáng kể trong góc nhìn về cách quản lý và sử dụng đất quốc phòng, nhưng đều chưa đạt được những tiêu chí hợp lý.

Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng chưa được quy định cụ thể trong LĐĐ đầu tiên năm 1987.

Tiếp theo trong LĐĐ 1993, khoản 1 điều 65 quy định cụ thể về sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh bao gồm đất để đóng quân; đất làm căn cứ quân sự; đất xây dựng các công trình quân sự, an ninh; đất làm sân bay, ga, cảng quân sự; đất làm kho tàng cho các lực lượng vũ trang; đất làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí; đất xây dựng nhà trường, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang và đất sử dụng làm các công trình công nghiệp, khoa học, kỹ thuật phục vụ quốc phòng, quốc phòng kết hợp làm kinh tế.

Tuy nhiên, mục đích cuối cùng có nội dung “phục vụ quốc phòng kết hợp làm kinh tế” lại không được thống nhất nhìn nhận.

Khoản 1 điều 89 của LĐĐ 2003 đưa ra quy định về đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh với hai điều chỉnh so với LĐĐ 1993:

(1) bổ sung mục đích sử dụng đất làm nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân và đất làm trại giam giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý;

(2) bỏ cụm từ “quốc phòng kết hợp làm kinh tế” trong mục đích sử dụng “đất làm các công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh”.

Như vậy, LĐĐ 2003 đã có góc nhìn “khắt khe” hơn với đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh. LĐĐ 2013 vẫn giữ nguyên quy định về đất quốc phòng, an ninh như LĐĐ 2003 và được quy định tại điều 61 và điều 148.

Điều 61 quy định về phạm vi áp dụng cơ chế nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, trong đó không áp dụng cho trường hợp đất để sử dụng vào mục đích “quốc phòng kết hợp làm kinh tế”.

Như vậy, có thể thấy khái niệm về đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh đã được quy định ngày càng chặt chẽ hơn trên nguyên tắc:

(1) mục đích quốc phòng, an ninh phải được xác định “thuần túy” gắn với nhiệm vụ bảo vệ đất nước; (2) mọi diện tích đất do các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang sử dụng vào mục đích làm kinh tế hoặc quốc phòng, an ninh kết hợp làm kinh tế đều không được coi là đất quốc phòng, an ninh.

Nói cách khác, đất đai do các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang sử dụng đều không thuộc phạm vi đất quốc phòng, an ninh, được coi là đất sản xuất nông nghiệp hoặc đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.

Câu chuyện sử dụng đất 
quốc phòng

Đất quốc phòng được hình thành tự nhiên như một câu chuyện lịch sử. Năm 1954 khi giải phóng miền Bắc và năm 1975 khi giải phóng miền Nam, quân đội nhân dân ta đã tiếp quản và sử dụng tất cả đất đai do quân đội thực dân và quân đội chế độ cũ chiếm đóng.

Từ đó biến động tăng giảm không nhiều. Đến năm 2000, tổng diện tích đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh của cả nước là 191.680ha (không có số liệu tách riêng đất quốc phòng và đất an ninh), trong đó đất an ninh do các đơn vị thuộc Bộ Công an sử dụng chỉ chiếm khoảng 10%, chủ yếu là đất sử dụng vào mục đích quốc phòng.

Theo LĐĐ 2003, đất quốc phòng và đất an ninh được tách riêng thành hai loại riêng biệt. Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng có biến động qua các năm (xem biểu đồ).

Trong tổng diện tích đất quốc phòng như bảng trên, diện tích đất quốc phòng tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc duyên hải miền Trung từ Đà Nẵng tới Bình Thuận, chiếm tới khoảng 50% tổng diện tích đất quốc phòng.

Xét về mặt biến động, diện tích đất quốc phòng được tăng thêm trên 70.000ha trong giai đoạn 2000 - 2005, tiếp tục tăng khoảng 36.000ha trong giai đoạn 2005 - 2010 và giảm khoảng 43.000ha trong giai đoạn 2010 - 2015.

Diện tích đất quốc phòng tăng nhiều trong giai đoạn 2000 - 2010 vì các lý do chủ yếu bao gồm: (1) bổ sung các diện tích đất trước đây do quân đội sử dụng thực tế nhưng chưa đưa vào thống kê đất quốc phòng; (2) Nhà nước giao thêm đất quốc phòng để sử dụng làm sân bay, cảng biển, trường bắn vũ khí hiện đại và nhiều nhu cầu sử dụng khác vào mục đích quốc phòng...

Bên cạnh diện tích đất quốc phòng tăng mạnh, cũng có một số diện tích đất quốc phòng giảm do Bộ Quốc phòng giao lại cho chính quyền địa phương để sử dụng vào mục đích dân sự, cụ thể bao gồm: (1) đất quốc phòng đã giao cho gia đình quân nhân để xây dựng nhà ở, đã thành khu dân cư phù hợp quy hoạch, nay chuyển giao cho địa phương quản lý;

(2) đất quốc phòng nhưng phù hợp với mục đích phát triển kinh tế, bảo tồn di tích văn hóa, lịch sử... được giao lại cho các địa phương sử dụng;

(3) được cho phép chuyển nhượng cho các nhà đầu tư dân sự để bổ sung ngân sách cho các đơn vị thuộc lực lượng quân đội.

Trong giai đoạn 2010 - 2015 đất quốc phòng giảm khá mạnh, trong đó lý do chủ yếu là Chính phủ quyết định chuyển một phần diện tích thuộc một số hải đảo khác về loại đất sử dụng cho mục đích dân sự.

Ngoài ra, việc rà soát hiện trạng sử dụng đất quốc phòng và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng cũng đẩy mạnh quá trình giao lại đất sử dụng hợp lý hơn cho mục đích phát triển kinh tế cho các địa phương cấp tỉnh quản lý và bố trí sử dụng, hoặc chuyển nhượng cho các nhà đầu tư dân sự để thực hiện các dự án đầu tư.

Suốt thời gian qua, lãnh đạo các tỉnh, TP trực thuộc trung ương đã có nhiều cố gắng trong việc thuyết phục các cơ quan quốc phòng cấp trung ương và cấp tỉnh về ba chuyện có liên quan tới đất quốc phòng.

Một là quy hoạch lại các khu dân cư do các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang tạo lập nhằm giải quyết nhà ở cho gia đình quân nhân để giao về cho địa phương quản lý như đất ở.

Hai là chuyển giao đất có lợi thế về phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa, lịch sử đang là đất quốc phòng về cho các địa phương quản lý và bố trí sử dụng.

Tại Hà Nội, sau một thời gian dài triển khai, Bộ Quốc phòng đã bàn giao lại một nửa thành cổ Hà Nội cho UBND TP để bảo tồn di tích lịch sử, nhưng vẫn giữ lại một nửa để sử dụng vào mục đích quốc phòng, lấy ranh giới là đường Nguyễn Tri Phương.

Ngoài ra, đất quốc phòng thuộc khu vực sân bay Bạch Mai cũ, sân bay Gia Lâm cũ cũng đã chuyển giao một phần nhất định để phát triển hạ tầng giao thông, làm công viên...

Tại các tỉnh, thành thuộc vùng duyên hải miền Trung, các sở tài nguyên và môi trường (TN-MT) đều có nhiệm vụ trọng yếu là thay mặt UBND cấp tỉnh thảo luận, thuyết phục cơ quan quân sự cấp tỉnh giao lại nhiều bãi biển đẹp để phát triển du lịch.

Có thể lấy ví dụ điển hình là bãi biển Mỹ Khê hay bán đảo Sơn Trà tại Đà Nẵng đã được bên quân sự bàn giao lại cho địa phương phát triển du lịch.

Trong nhiều lần trao đổi riêng, anh Nguyễn Điểu, nguyên giám đốc Sở TN-MT Đà Nẵng, đã cho biết nhiệm vụ thuyết phục bên quốc phòng giao lại đất quốc phòng có lợi thế phát triển kinh tế là rất khó nhưng Đà Nẵng đã thành công, tạo lợi thế lớn trong việc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Đà Nẵng trở thành TP hiện đại, TP đáng sống.

Ba là việc các đơn vị quốc phòng xin chuyển nhượng lại đất đang sử dụng (chủ yếu “đất vàng”) cho các nhà đầu tư dân sự để thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế.

Có thể lấy ví dụ điển hình trường hợp này là Nhà máy Ba Son của quân đội đã được chuyển nhượng cho VinGroup để phát triển nhà ở và khu đô thị mới. Những vụ chuyển nhượng tương tự với các nhà khách, khách sạn, nơi vui chơi giải trí do quân đội quản lý cũng diễn ra ở nhiều địa phương.

Bàn thêm về chính sách 
quân đội làm kinh tế

Quân đội làm kinh tế hay không làm kinh tế không chỉ là chính sách lớn, mà còn là triết lý quốc phòng lớn, cách thức vận dụng còn phụ thuộc vào tình hình cụ thể từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Ở VN hay ở nhiều nước châu Á khác, triết lý quân đội phát triển sản xuất trong thời bình để tự lo hậu cần cho thời chiến đã được áp dụng suốt chiều dài lịch sử nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát triết lý này thành một triết lý lớn hơn: mỗi người dân là một người lính bảo vệ đất nước, mỗi người lính cũng là một người dân trong sản xuất. Nền quốc phòng toàn dân được xây dựng dựa trên triết lý này.

Từ đây, cơ chế doanh nghiệp quốc phòng tham gia hoạt động kinh tế sinh lợi được hình thành và phát triển.

Khảo cứu kinh nghiệm nước ngoài cũng có thể cho thấy một số chính sách khác nhau được áp dụng. Nhà nước Trung Hoa trong thời gian vài chục năm qua cũng đã có những thay đổi mạnh mẽ trong cách nhìn về chính sách quân đội có làm kinh tế hay không.

Dưới thời Tổng bí thư Giang Trạch Dân, số lượng các đơn vị vũ trang làm kinh tế đã được thu hẹp. Tháng 3-2016, Tổng bí thư Tập Cận Bình đã có thông báo dừng toàn bộ các hoạt động dịch vụ sinh lời của các đơn vị quân đội và cảnh sát vũ trang.

Ở đây, chúng ta cần lưu ý thuật ngữ “dịch vụ sinh lời” được sử dụng để thay thế thuật ngữ “làm kinh tế”. Cốt lõi của vấn đề chính là cơ chế “sinh lời”, là nguyên nhân làm sao nhãng nhiệm vụ chính của quân đội là bảo vệ đất nước.

Những chính sách như vậy từng bước đã đưa Trung Hoa từ một nước có nền quốc phòng không mạnh trở thành đất nước có lực lượng quân sự hiện đại trên thế giới.

Tại các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Pháp... kinh tế quốc phòng là một lĩnh vực phát triển rất mạnh, sinh lợi cao nhưng không do lực lượng vũ trang thực hiện, mà do kinh tế tư nhân thực hiện như các ngành kinh tế khác.

Ví dụ như ở Pháp, doanh nghiệp tư nhân EADS bảo đảm sản xuất mọi loại vũ khí, máy bay quân sự, tên lửa sử dụng vào mục đích quốc phòng. Hay ở Mỹ, Tập đoàn tư nhân Lockheed Martin cũng chế tạo những vũ khí hàng không, vũ trụ cho mục đích quốc phòng.

Quân đội không làm kinh tế, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ luyện tập để trở thành những đội quân tinh nhuệ, sức chiến đấu cao.

Tại VN, kinh tế quốc phòng là lĩnh vực khu vực dân sự không được thực hiện, mà phải do lực lượng vũ trang thực hiện. Nếu không cho quân đội làm kinh tế quốc phòng thì sẽ không phát triển được công nghệ và kinh tế quốc phòng.

Vấn đề được đặt ra là quân đội làm kinh tế theo cơ chế nào và hạn chế trong phạm vi nào thì phù hợp. Hơn nữa, cần tìm lộ trình hợp lý để thực hiện, tạo nên hướng đi mạch lạc trong nhiệm vụ hiện đại hóa quân đội ta và sử dụng đất quốc phòng đúng mục đích, hiệu quả cao.

Việc thứ nhất có thể làm là quân đội không tham gia các hoạt động dịch vụ kinh doanh “sinh lời” trong phạm vi khối kinh tế dân sự đang làm. Các doanh nghiệp quân đội sẽ được cổ phần hóa để trở thành các doanh nghiệp dân sự thông thường và đất quốc phòng đang sử dụng cũng được trả về cho địa phương quản lý.

Việc tiếp theo là các doanh nghiệp quốc phòng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế quốc phòng theo một cơ chế đặc thù, không lấy tiêu chí “sinh lời” riêng làm trọng tâm. ■

Quy định về chuyển đất quốc phòng sang sử dụng vào mục đích kinh tế

Đất quốc phòng thuộc loại đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, không được tham gia thị trường bất động sản. Việc chuyển đất quốc phòng sang sử dụng vào mục đích khác phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.

Theo quy định tại điểm đ và e, khoản 1 điều 57 và điều 59 LĐĐ 2013, việc chuyển đất quốc phòng sang sử dụng vào mục đích kinh tế phải được phép của UBND cấp tỉnh.

Theo điều 173 LĐĐ 2013, các tổ chức sử dụng đất quốc phòng không được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng cho người khác.

Việc chuyển quyền sử dụng đất phải được thông qua cơ chế Nhà nước thu hồi đất quốc phòng và giao đất cho người khác sử dụng, phù hợp với quy định có thu tiền hoặc không thu tiền sử dụng đất.



8-7-2017

Sai phạm của bà Kim Thoa: “Lỗ hổng” trong rèn luyện đạo đức Đảng viên

VOV.VN -“Trong việc kê khai tài sản, không có lỗ hổng nào cả. Chỉ có “lỗ hổng” trong việc rèn luyện phẩm chất, tư cách đạo đức và lối sống của một đảng viên”.

Kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương tại kỳ họp thứ 15 đã nêu rõ những vi phạm, khuyết điểm đối với bà Hồ Thị Kim Thoa - Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Công thương. Ông Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục, Thanh Thiếu niên đồng của Quốc hội cho rằng, kết luận của Ủy ban Trung ương rất đúng đắn, đã chỉ ra rất rõ ràng, mạch lạc những vi phạm, khuyết điểm của bà Hồ Thị Kim Thoa. Nhiều sai phạm rất cụ thể như trong thời gian giữ các chức vụ Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty Bóng đèn Điện Quang, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Bóng đèn Điện Quang (1/2004 - 5/2010), bà Hồ Thị Kim Thoa đã vi phạm trình tự, thủ tục trong việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp, chậm báo cáo, chưa tổ chức bàn giao giữa doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần theo quy định của pháp luật; Mua cổ phần vượt mức quy định; chuyển nhượng cổ phần không đúng quy định của Điều lệ của Công ty. Việc chuyển nhượng phần vốn góp của Nhà nước vào Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại Điện Quang không báo cáo, xin ý kiến chủ sở hữu là vi phạm quy định về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp…

“Theo tôi phải tìm ra nguyên nhân dẫn đến những sai phạm đó trong một thời gian dài đối với một cán bộ được giao phó nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực kinh tế ” - ông Chức nói.

Vi phạm kê khai là do cố tình

PV: Trong kết luận của Ủy ban kiểm tra Trung ương cũng nhấn mạnh việc bà Thoa, nhiều lần kê khai tài sản, thu nhập không đúng, không đầy đủ theo quy định về kê khai tài sản, thu nhập. Theo ông vì sao lại để xảy ra tình trạng này trong một thời gian dài mới bị phát hiện?

Ông Nguyễn Viết Chức: Việc vi phạm là do người kê khai họ cố tình, chứ quy định về kê khai tài sản đã khá rõ ràng. Vì thế, nếu làm một cán bộ, đảng viên trung thực thì có quy định đó rồi, cứ thế kê khai đúng, đủ tài sản của mình. Còn việc kê khai không đúng thì người kê khai phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương thẳng thắn chỉ rõ những vi phạm, khuyết điểm của bà Kim Thoa và kết luận những vi phạm, khuyết điểm của bà này là nghiêm trọng, đến mức phải xem xét thi hành kỷ luật, cùng với việc xử lý các vụ việc trong thời gian vừa qua cho thấy dấu hiệu rất tích cực, sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc xử lý sai phạm. Những việc làm này đang rất được người dân hoan nghênh ủng hộ.

Qua việc này cho thấy, không có vùng cấm, không có nơi nào nhạy cảm trong xử lý vi phạm. Ai làm sai, chỗ nào sai đều phải xử lý.

Lỗ hổng trong rèn luyện phẩm chất, tư cách đạo đức Đảng viên

PV: Qua các vụ việc gần đây và việc bà Kim Thoa vi phạm trong kê khai tài sản, ông có cho rằng việc kê khai hiện nay đang có nhiều “lỗ hổng” để người ta có thể dễ dàng gian dối?

Ông Nguyễn Viết Chức: Tôi nghĩ không có lỗ hổng nào cả. Đã có quy định về kê khai thì cá nhân phải kê khai theo sự trung thực của mình với tư cách là Đảng viên, cán bộ cao cấp của Đảng.

Tôi thấy dư luận băn khoăn rất đúng việc có người kê khai chỉ có vài trăm triệu, nhưng 10 năm sau tự dưng có 10 tỷ, 20 tỷ thì cần phải giải trình xem nguồn gốc số tiền đó ở đâu, trong khi lương ông một tháng có 4-5 triệu đồng.

Tôi cho rằng, về mặt văn bản ban hành đều đúng đắn, không có luật nào bao quát hết được cuộc sống. Vấn đề ở đây tại sao Đảng ta lại coi trọng phê và tự phê, tại sao Đảng ta lại nói đảng viên phải giác ngộ. Khi giác ngộ thì phải trung thực, cán bộ cao cấp mà không trung thực khi phát hiện lòi ra có tài sản khủng, mà ông không chứng minh được thì ông phải chịu trách nhiệm về khối tài sản đó, cộng với khuyết điểm nữa là khai báo không trung thực.

Ủy ban kiểm tra lần này làm nghiêm, trong kết luận về bà Hồ Thị Kim Thoa nói rõ cả hai khuyết điểm. Thứ nhất là không thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, thứ hai là không trung thực trong kê khai tài sản.

Theo tôi ở đây không phải lỗ hổng nào cả, chính là lỗ hổng trong rèn luyện phẩm chất, tư cách đạo đức và lối sống của một đảng viên.

Biểu hiện rõ ràng của sự suy thoái tư tưởng đạo đức

PV: Thưa ông, việc vi phạm khuyết điểm, trong đó có việc kê khai không trung thực tài sản cũng là một biểu hiện rõ ràng của sự suy thoái tư tưởng đạo đức mà Đảng ta đã nêu ra trong Nghị quyết Trung ương 4?

Ông Nguyễn Viết Chức: Nghị quyết lần thứ 12 của Đảng đã đề cao việc xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đạo đức trong Đảng. Nếu không trong sạch thì Đảng không vững mạnh, muốn vững mạnh thì phải trong sạch, trong sạch mà không trung thực thì làm sao trong sạch được.

Việc kê khai tài sản không trung thực của bà Thoa là biểu hiện rất rõ ràng của sự suy thoái tư tưởng đạo đức chính trị. Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng đã nói rất rõ ràng “Những vi phạm, khuyết điểm của bà Hồ Thị Kim Thoa là nghiêm trọng, đến mức phải xem xét thi hành kỷ luật”. Nghiêm trọng là bởi anh làm những việc sai trái với quy định của Nhà nước, làm ảnh hưởng tới tư cách, đạo đức người Đảng viên, trong khi đó toàn Đảng đang tích cực xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

PV: Việc phát hiện ra kê khai tài sản không đúng, thậm chí có tài sản tham nhũng nhưng gần như việc thu hồi vẫn đang còn là dấu hỏi, thưa ông?

Ông Nguyễn Viết Chức: Đúng là thu hồi các tài sản này quá khó vì chúng ta là đất nước còn tiêu tiền mặt và nhiều vấn đề liên quan đến việc đó nên thu hồi tài sản tham nhũng, tài sản bất minh rất khó.

Chúng ta cũng đã có những quy định, các cơ quan luật pháp cũng đã cảnh báo về việc này. Tôi cho rằng việc thu hồi được những tài sản này không phải trong một sớm một chiều là làm được, nhưng chúng ta đã nhìn ra những điểm yếu thì chắc chắn sẽ có biện pháp khắc phục.

PV: Từ sau Đại hội XII, có nhiều vụ việc liên quan đến nhiều cán bộ cao cấp sai phạm đã được đưa ra xử lý. Ông có cho rằng đây là dấu hiệu đáng mừng trong công cuộc phòng, chống tham nhũng?

Ông Nguyễn Viết Chức: Đây là dấu hiệu đáng mừng, nói đi đôi với làm, không có vùng cấm trong xử lý sai phạm. Như thế có nghĩa là bất kỳ đồng chí nào, cao hay thấp vi phạm thì đều phải xử lý. Đây cũng là việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quan trọng đúng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Không phải nói như thế là sau Đại hội XII thì vi phạm nhiều, mà khuyết điểm nó tồn tại từ nhiều khóa trước. Sai phạm từ khóa trước nhưng bây giờ mới làm được.

Dư luận nhân dân muốn làm sạch, làm hết những vi phạm. Nhưng theo tôi phải chia sẻ với các cơ quan điều tra, với Trung ương vì vấn đề này liên quan đến số phận một con người nên phải thận trọng. Nhưng tinh thần rõ ràng là thấy Trung ương làm rất quyết liệt, thẳn thắn. Đó là điều rất đáng mừng.

PV: Xin cảm ơn ông./.



8-7-2017

Trục lợi từ cổ phần hóa

Ủy ban Kiểm tra trung ương kết luận bà Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Bộ Công Thương, đã có vi phạm trong cổ phần hóa Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang; kê khai tài sản, thu nhập không đúng.

Nhớ lại, sau vụ việc Trịnh Xuân Thanh bị phanh phui, công luận mới để mắt đến khối tài sản của bà Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa (!?). Công luận đã chỉ ra nguồn gốc phát sinh tài sản "khủng" của cá nhân và gia đình bà là từ cổ phần hóa Công ty Bóng đèn Điện Quang.

Thực tiễn triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp (DN) nhà nước những năm qua bên cạnh những thành công đã bộc lộ không ít lỗ hổng, tạo cơ hội cho những người đang nắm giữ cương vị quản lý có thể trục lợi, nói cách khác là không ít tài sản công chảy vào túi tư nhân gần như khó kiểm soát.

Chiêu thức thường xảy ra và được phanh phui trong các vụ cổ phần hóa tai tiếng là định giá thấp giá trị còn lại của tài sản, đặc biệt là giá trị quyền sử dụng đất. Đã có không ít mảnh "đất vàng", có giá trị cao tại các thành phố lớn rơi vào tay tư nhân với giá rất thấp.

Theo đoàn giám sát của Quốc hội, có đến 85% DN chọn thuê đất để không phải xác định giá trị vào tài sản DN. Tiếp đến là sự mập mờ, thiếu minh bạch, không công khai định giá tài sản, không công khai đối tượng mua cổ phần để một số đối tượng nắm giữ thông tin đứng ra "dàn cảnh" mua bán với giá thấp hơn giá thị trường rất nhiều. Cuối cùng là hạ giá tài sản nhà nước trong DN bằng việc "thả" cho DN thua lỗ triền miên trước khi cổ phần hóa. Với chiêu thức này, vẫn những lãnh đạo, thị trường và công nghệ đó nhưng sau khi cổ phần hóa, DN đột nhiên có lợi nhuận cao.

Để ngăn chặn trục lợi cổ phần DN nhà nước, trước tiên phải được đưa ra bán đấu giá công khai, nếu không thành công thì đưa ra chào bán giá cạnh tranh (đấu giá theo điều kiện). Khi cả 2 bước này không thành công mới bán cổ phần theo thỏa thuận. Khi đấu giá công khai thì người mua cũng được công khai và cạnh tranh sòng phẳng với nhau. Điều này tránh việc thỏa thuận giữa 2 bên, lãnh đạo DN nhà nước muốn bán cho người nào là xây dựng chính sách, điều kiện có lợi cho người đó.

Để tránh việc lãnh đạo hạ thấp giá trị DN trước khi cổ phần hóa, nhà nước cần kiểm tra, giám sát DN để hoạt động theo đúng năng lực; tăng cường xử lý các vấn đề về tài chính trước và trong quá trình cổ phần hóa nhằm bảo đảm ngăn chặn thất thoát vốn và tài sản nhà nước. Khi tiến hành cổ phần hóa, phải định giá theo giá thị trường chứ không theo giá nhà nước.

Bên cạnh đó, đất đai và xác định giá trị quyền sử dụng đất trong giá trị DN cổ phần hóa, trong đó tính cả giá trị về lợi thế thương mại của quỹ đất vào giá trị đất đai nhằm hạn chế việc lợi dụng để ôm đất vàng giá rẻ.

Thiết nghĩ, khi cổ phần hóa DN nhà nước, phải tăng cường tính công khai, minh bạch trong quá trình mua bán cổ phần, có sự tham gia của các tổ chức tư vấn, chuyên gia độc lập và tăng cường thanh tra, kiểm toán. Bên cạnh đó, xử lý nghiêm minh những cán bộ, quan chức có khối tài sản lớn có dấu hiệu bất minh.

Diệp Văn Sơn



8-7-2017

Gần 3 tấn ngà voi giấu trong xe hoa quả

Hơn 500 khúc ngà voi trong những thùng hoa quả, đang được vận chuyển về Hà Nội tiêu thụ thì bị bắt giữ.

Ngày 8/7, lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và tham nhũng (PC46) kiểm tra xe tải biển số Hà Nội khi phương tiện đang lưu thông trên quốc lộ 1A, đoạn qua địa phận xã Quảng Phong, huyện Quảng Xương.

Bên trong các thùng hoa quả, nhà chức trách phát hiện hơn 560 khúc sừng động vật nặng hơn 2,7 tấn. Theo kết quả giám định của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, lô hàng trên đều là ngà voi.

Tài xế Nguyễn Trường Sơn (36 tuổi, quê Đắk Lắk) không xuất trình được giấy tờ lô hàng, khai số ngà được vận chuyển từ tỉnh Đồng Nai ra Hà Nội tiêu thụ.

Số ngà voi đã được niêm phong, bàn giao cho công an tỉnh xử lý. Cảnh sát cho hay, đây là vụ bắt giữ ngà voi số lượng lớn nhất từ trước đến nay ở Thanh Hóa.

Lê Hoàng