16-7-2017

Quan chức lấy tiền đâu xây biệt thự nguy nga?

VOV.VN - Trước hình ảnh những ngôi biệt thự bề thế, đắc địa của một số quan chức địa phương, dư luận không khỏi băn khoăn về nguồn gốc tài sản "khủng" của họ.

Gần đây, dư luận xôn xao về chuyện quan chức xây biệt thự nguy nga trong khi cuộc sống của người dân địa phương vẫn chưa được cải thiện. Và có vẻ như nguồn gốc số tiền "khủng" xây các khu dinh thự mà họ đưa ra vẫn chưa mấy thuyết phục.

Phóng viên VOV đã có cuộc phỏng vấn bà Trần Thị Quốc Khánh - Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Thường trực ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội xung quanh nội dung này.

PV: Thưa bà, gần đây ở một số địa phương như Yên Bái, Hà Nam xuất hiện một số quan chức có những khu gọi là “biệt phủ”. Vậy ý kiến đánh giá của bà về vấn đề này như thế nào?

Bà Trần Thị Quốc Khánh: Tôi cho là những cán bộ lãnh đạo ở các cấp nếu mà thực hiện đúng những Điều lệ của Đảng và Nghị quyết chỉ thị của Đảng thì sẽ sống không phải kiểu vào Đảng để làm "quan cách mạng" hay là để hưởng thụ mà đáng nhẽ vào để lo cho dân cho nước.

Khi vào Đảng các vị cũng thề, đọc lời thề đối với Đảng trước khi gia nhập, nhưng vào một thời gian rồi thì quên, như Bác Hồ nói hồi xưa, là trở thành "quan cách mạng" nên là muốn sống vinh hoa phú quý. Đây là "chủ nghĩa cá nhân"mà theo tôi là không nên.

Rõ ràng, chuyện xây dinh thự nguy nga cũng thể hiện suy nghĩ không đúng mực bởi con người ta sẽ sống một cuộc sống có ý nghĩa nhất chứ không phải là "khoe của". Của cải một đống, mồ hôi nước mắt của mình hay là của thiên hạ mà nó tạo ra những biệt phủ lớn như thế!?

PV: Khi người ta giàu có thì người ta có quyền hưởng thụ, xây dựng tư gia hoành tráng cũng là bình thường. Quan điểm của bà thế nào, thưa bà?

Bà Trần Thị Quốc Khánh: Ở Việt Nam vốn đã có những gương tày liếp: giàu có như công tử Bạc Liêu, thế nhưng đời con cháu cũng trắng tay. Đây là sự thật. Nếu nhìn sâu xa thì có lẽ họ không bao giờ dám sống cuộc sống xa hoa, khoe của, hợm hĩnh như thế.

Người ta sẽ cống hiến cho đất nước, cho mọi người ở quê hương mình nhiều hơn và sống vừa phải thôi thì con cái cũng ngoan. Còn nếu sống "trên tiền" như thế thì con cái sau này sẽ phá. Đây là một bài học, “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Đấy là bài học nhãn tiền. Cho nên, những người cứ tưởng giàu có, vinh hoa phú quý, có "biệt phủ" này kia, hãy chờ đấy, hãy nhìn những gương trước đó!

Đây là bài học của rất nhiều các thế hệ của những người làm cha mẹ ngày xưa. Có những người không giàu có, không để lại tiền của, nhưng họ để lại cho các con tấm gương về đạo đức.

Trên thế giới, tỷ phú Bill Gates giàu số 1 nhưng cũng chỉ để lại 1% cho con thôi, còn 99% là cống hiến cho nhân loại. Tại sao họ không học những tấm gương như thế?

Nếu mình không thực sự giỏi giang mà lấy được của thiên hạ, của dân, của nước thì sớm muộn "của thiên" cũng sẽ phải "trả địa". Bài học nhân quả rất rõ.

VOV.VN - Những biệt thự xa hoa đó khiến dư luận không thể không đặt câu hỏi: Vì sao quan chức lại có khối tài sản lớn đến như vậy?

PV: Thưa bà, trước những biệt thự nguy nga như thế, báo giới vẫn băn khoăn là tại sao các quan chức địa phương không vào cuộc. Có thể là vì nể nang, hay là do thờ ơ, ngại "va chạm" mà không kiểm tra hay điều tra nguồn gốc tài sản từ đâu mà có. Bà đánh giá vấn đề này như thế nào?

Bà Trần Thị Quốc Khánh: Cái này không phải là một lý do đâu mà là có nhiều lý do. Hiện nay, cơ chế của chúng ta về công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, Đảng, chính quyền còn lỏng lẻo. Pháp luật về cơ bản là rất đầy đủ, thế nhưng trong quá trình thực hiện chưa nghiêm.

Bên cạnh đó, với những người có thế lực ở địa phương thì có thể "bao phủ" những mối quan hệ đó bằng tiền, vật chất để dụ và để khuất phục những người khác. Cho nên, không ai dám động đến họ và đương nhiên không động đến thì họ không biết sợ, họ cho đấy như là thành quả của họ. Nhẽ ra, các cấp ủy, chính quyền địa phương cũng phải nhắc nhở.

Thực tế cho thấy, rất nhiều vụ việc được phanh phui ra cũng là từ báo chí, cho nên có thể nếu báo chí không đưa lên thì cũng chẳng ai biết. Tại sao lại xuất hiện những biệt phủ này, biệt phủ kia ở nơi này nơi kia. Tôi rất mong các cơ quan báo chí phải mạnh mẽ hơn nữa để theo dõi và đưa chính xác, góp phần ngăn chặn những lối sống "trọc phú".

PV: Xin cảm ơn bà!./.



16-7-2017

Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển

Trong khi trước đây người ta hô hào về việc xóa bỏ địa chủ phú nông, thì phương Tây xóa bỏ bần nông. Trong khi trước đây người ta tự hào về việc xóa bỏ quý tộc thì phương Tây xóa bỏ lưu manh. Đây chính là hai tư tưởng trị quốc hoàn toàn khác nhau, có thể dùng câu nói nổi tiếng để khái quát: một chế độ tốt có thể làm cho người xấu trở thành người tốt, một chế độ xấu có thể làm cho người tốt biến thành kẻ xấu. Phát động lưu manh để tiêu diệt quý tộc, cũng không thể làm cho lưu manh trở thành cao thượng, chỉ có thể làm cho lưu manh càng trở nên lưu manh hơn. Dụ dỗ, đe dọa nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến cả xã hội thành lưu manh.

Quý tộc, bình dân và lưu manh

Nhân loại là một quần thể to lớn và phức tạp nhất trên thế giới. Nói về tính chất vốn có của tinh thần và ý thức, có thể phân thành 3 thứ bậc khác nhau: quý tộc, bình dân và lưu manh. Ba thứ bậc này được phân theo dạng hình thoi đứng, ở giữa phình to là tầng lớp bình dân, đầu nhỏ ở trên cùng là tầng lớp quý tộc, còn đầu nhỏ dưới cùng là lưu manh. Từ bình dân tới quý tộc thì không có giới hạn rõ rệt, từ bình dân tới lưu manh cũng không có giới hạn rõ rệt, nhưng lưu manh và quý tộc thì có sự khác biệt một trời một vực.

Sở dĩ được gọi là quý tộc không phải vì có nhiều của cải, cũng không phải vì có nhiều quyền lực, mà là vì họ có một tinh thần cao quý, sử sách gọi đây là tinh thần quý tộc. Người thiếu tinh thần quý tộc, thì dù giàu có không ai sánh bằng cũng chỉ là mang bản tính lưu manh mà giàu có; dù có quyền lực to đến mấy, thì cũng chỉ là kẻ độc tài chuyên chế mang bản tính lưu manh.

Sở dĩ gọi là lưu manh không phải là vì không có gì trong tay, mà là ý thức lưu manh ở bên trong nội tâm. Giai cấp vô sản không đồng nghĩa với lưu manh, giai cấp vô sản đa số là người bình dân an phận thủ thường. Trong quần thể lưu manh, có người giàu, có kẻ nghèo; có bình dân, có quyền quý; có người ngốc nghếch, cũng có kẻ thiên tài.

Tinh thần quý tộc đại diện cho đỉnh cao của văn minh nhân loại, ý thức lưu manh đại diện cho sự thấp kém nhất của nhân loại. Dường như tất cả mọi người đều có suy nghĩ hướng tới sự cao thượng, và cũng có những ham muốn dục vọng thấp kém, đây chính là cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính. Nhân tính chiến thắng thú tính, thì con người hướng tới sự cao thượng; thú tính chiến thắng nhân tính, con người sẽ hướng tới sự hèn hạ bỉ ổi. Đối với đa số người bình dân, nhân tính và thú tính vẫn đang giằng co chưa có hồi kết, nên nó làm cho cả một đời vẫn cứ loay hoay quanh cao thượng và thấp kém. Đa số người dân đều là an phận thủ thường nên cả đời sẽ không có gì nổi bật. Bình dân nếu muốn siêu phàm thoát tục, thì phải hướng tới cao thượng để có hy vọng trở thành quý tộc. Còn nếu hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì sẽ trở thành lưu manh. Con người vươn tới sự cao thượng thì rất khó, và để trở thành quý tộc thì lại càng khó hơn; còn hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì rất dễ, trở thành lưu manh thì dễ như trở bàn tay. Cũng chính vì nguyên nhân này mà xã hội nhân loại hiện nay quý tộc thì ít mà lưu manh thì nhiều.

Cao thượng và cao quý không khác nhau về bản chất, nhưng cao thượng và cao quý lại có khoảng cách, đó là mức độ khác nhau, trạng thái khác nhau. Bình dân cũng biết cao thượng, nhưng thường chỉ có thể cao thượng trong thuận cảnh, chứ không thể “cố thủ” cao thượng trong nghịch cảnh. Nếu như trong nghịch cảnh mà có thể giữ được cao thượng, thì đó chính là trạng thái cao quý, cũng tức là đã thành quý tộc.

Nếu cao thượng đã đạt đến trạng thái cao quý, thì tức là “phú quý mà không dâm, dưới áp lực mà không chịu khuất phục”. Đây chính là trạng thái của tinh thần quý tộc. Câu trên có hai tầng ý nghĩa. Tầng thứ nhất là giải thích đối với phú hào quyền quý: Anh giàu có rồi thì không thể dâm đãng, anh có quyền rồi thì anh không thể lấy quyền đấy để bắt người khác khuất phục. Tầng thứ hai là giải thích với tầng lớp bình dân: Anh không giàu có, nhưng anh không thể bị phú quý dụ dỗ mê hoặc để rồi từ bỏ cao thượng; anh không có quyền lực nhưng anh không thể khuất phục trước quyền lực, anh chỉ có thể tâm phục khẩu phục trước sự công bằng và chân lý. Đạt đến trạng thái này rồi, thì dù có là bình dân nhưng anh vẫn có tinh thần quý tộc.

Tinh thần quý tộc là gì?

Tinh thần quý tộc có 3 nội hàm cao quý đó là: thành tín, đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm.

Thành tín là linh hồn của văn minh nhân loại, không có thành tín, thì không có đạo đức, cũng không có văn minh; thành tín cũng là linh hồn của phẩm cách cá nhân, không có thành tín, thì không thể có phẩm cách cao thượng. Người thiếu sự thành tín, thì hoặc là người vô lại hoặc là kẻ lưu manh. Dân tộc thiếu sự thành tín, thì chắc chắn là dân tộc ngu muội không có văn hóa. Thành tín cũng là gốc rễ của chế độ dân chủ, vì không có thành tín, thì không có dân chủ đúng nghĩa. Cụ thể, dân chủ dựa vào hiến pháp, và hiến pháp chính là khế ước của xã hội. Thành tín chính là gốc rễ của khế ước, không có thành tín thì khế ước cũng chỉ là tờ giấy vứt đi.

Quý tộc sở dĩ là quý tộc, là bởi vì quý tộc coi thành tín quan trọng hơn cả mạng sống, thành tín mang đến sự cao thượng, sự tôn nghiêm và giá trị cao quý của sinh mệnh. Ví dụ, quý tộc châu Âu thà dùng quyết đấu sòng phẳng thẳng thắn để phân thắng thua, chứ không muốn dùng âm mưu quỷ kế để tranh cao thấp. Đây thực chất chính là thà chết để giữ lấy giá trị của thành tín. Sử quan thời Trung Quốc cổ đại thà chết chứ không muốn vì đế vương thay đổi lịch sử, cũng chính là thà chết để giữ lấy giá trị của sự thành tín.

Đạo nghĩa bao hàm nhân đạo và công đạo. Nhân đạo là tiền đề của công đạo, chính là sự tôn trọng đối với sinh mệnh của con người. Người ngay cả ý thức nhân đạo cũng không có, thì về cơ bản không thể có công đạo. Tôn thờ bạo lực chính là coi thường nhân đạo. Nhân đạo và công đạo hòa quyện sinh ra chủ nghĩa nhân quyền của nền văn minh hiện đại, sở dĩ châu Âu có thể sinh ra Công ước Nhân quyền, thực chất chính là do sự thúc đẩy của tinh thần quý tộc.

Tinh thần đạo nghĩa mang tới nhân từ, mang tới khoan dung, mang tới sự quan tâm, mang tới sự công chính. Quý tộc quan tâm tới những người yếu, các sự nghiệp từ thiện trên thế giới dường như đều do quý tộc đầu tư xây dựng, và cái mà họ dựa vào chính là tinh thần đạo nghĩa.

Tinh thần trách nhiệm chính là tinh thần dám gánh vác. Chịu trách nhiệm với lương tri của xã hội nhân loại, chịu trách nhiệm với văn hóa truyền thống của nhân loại, bảo vệ đạo đức, duy trì công bằng xã hội, bảo vệ sự phát triển hòa bình của xã hội.

Chính tinh thần trách nhiệm mang tới lòng tin và sức mạnh không gì lay chuyển được của quý tộc, một khi dân tộc rơi vào khủng hoảng, quý tộc sẽ đứng phía trước dân tộc, bảo vệ an toàn cho dân tộc. Chính tinh thần trách nhiệm này mang đến cho họ tinh thần “Prometheus cướp lửa thần trao cho nhân loại”, và tinh thần “ta không vào địa ngục thì còn ai vào nữa”. Cũng chính tinh thần này đã bảo vệ và thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển hơn.

Ba loại tinh thần này đều đến từ tín ngưỡng tôn giáo, chỉ có tín ngưỡng tôn giáo mới có thể chuyển hóa thành sức mạnh tinh thần kiên định và bền bỉ, đạt đến trạng thái cao quý.

Dù cá nhân quý tộc có tồn tại khuyết điểm này khuyết điểm nọ, nhưng quần thể quý tộc vẫn là lực lượng chủ đạo thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển.

Tinh thần quý tộc thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển

Trong mỗi cá nhân đều tồn tại cuộc chiến nhân tính và thú tính, và nó làm cho cả một đời cứ loay hoay giữa cao thượng và thấp kém: thượng đế kêu gọi con người hướng đến cao thượng, ma quỷ dụ dỗ con người hướng đến sự thấp kém; người cao quý cao thượng thì gần quý tộc hơn, người hướng tới thấp kém bỉ ổi thì gần với lưu manh hơn; hoặc có thể nói, người gần với quý tộc thì trở nên cao thượng, kẻ gần với lưu manh thì trở nên thấp kém. Tục ngữ gọi hiện tượng này là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

Mở rộng ra, một dân tộc cũng tồn tại cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính, điều này thực chất là cuộc chiến giữa văn minh và vô văn hóa, cũng là cuộc chiến giữa quý tộc và lưu manh. Một dân tộc do quý tộc chủ đạo, thì sẽ mang đến sự tiến bộ cho nền văn minh; do lưu manh chủ đạo thì sẽ lùi lại về không có văn minh, đây không phải là sức sản xuất vật chất bị thụt lùi, mà là sự thụt lùi về văn minh tinh thần, về văn hóa, đạo đức. Điều này đã được chứng minh bởi lịch sử.

Lịch sử phát triển của nhân loại là do quý tộc chủ đạo, do đó nhân loại mới từ không văn minh mà hướng đến văn minh, nhưng trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài, có lúc cũng bị lưu manh kiểm soát, lưu manh chiếm cứ địa vị chủ đạo, kết quả làm cho văn minh bị thụt lùi, do đó, tiến trình phát triển của văn minh nhân loại mới xuất hiện nhiều khúc khuỷu, tiến lùi.

Ý thức tinh thần của con người là thể đa diện phức tạp, tức có ý thức giữ gìn cao thượng, thì cũng có ham muốn tình cảm thấp kém. Tuy nhiên, con người hướng tới cao thượng lại giống như leo núi, rất khó; còn hướng tới thấp kém lại rất dễ, giống như đang ngồi cầu trượt. Do đó mà xã hội nhân loại từ trước đến nay lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc.

Xã hội nhân loại trước giờ lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc, vậy sao quý tộc có thể chiếm địa vị chủ đạo trong sự phát triển của xã hội? Điều này quyết định bởi thái độ của tầng lớp bình dân: tầng lớp bình dân ủng hộ quý tộc, thì quý tộc chiếm thượng phong, tức chiếm vị trí chủ đạo, và dân tộc này sẽ duy trì nền văn minh cao thượng; tầng lớp bình dân mà ủng hộ lưu manh, lưu manh chiếm thượng phong, tức lưu manh chiếm vị trí chủ đạo, thì dân tộc này sẽ duy trì sự thấp kém không văn minh. Đây chính là nguyên nhân cơ bản các dân tộc khác nhau có tiến trình văn minh và mức độ văn minh khác nhau.

Dân tộc ủng hộ quý tộc, quý tộc dễ chiếm thượng phong; dân tộc ủng hộ lưu manh, lưu manh dễ chiếm thượng phong. Nếu lưu manh chiếm thế thượng phong, chiếm vị trí chủ đạo, thì tất nhiên sẽ mê hoặc và dụ dỗ nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, ép buộc nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến thành một đại quốc lưu manh, văn hóa đạo đức sẽ bị thoái lui toàn diện, xã hội sẽ đổ vỡ.

Sáng tạo văn minh và sáng tạo lịch sử

Thành tựu văn minh nhân loại dường như đều là quý tộc sáng tạo, từ tư tưởng triết học thời viễn cổ, tín ngưỡng tôn giáo, lòng tin đạo đức, đến văn hóa nghệ thuật thời trung cổ, đến khoa học tự nhiên thời cận đại, cho đến cơ chế dân chủ thời hiện đại, tư tưởng mở ra thời đại mới của lịch sử nhân loại, dường như đều là quý tộc sáng tạo ra. Có thể nói thế này, không có quý tộc, thì không có văn minh nhân loại. Không cần tìm đâu xa, chỉ cần tìm những nhà triết học, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, thần học, khoa học vĩ đại trên thế giới, có ai không phải là quý tộc?

Quý tộc không chỉ sáng tạo văn minh, mà còn sáng tạo ra lịch sử. Những nhà quý tộc thời cận đại của châu Âu, họ đã sáng tạo ra “Quân chủ lập hiến”, sáng tạo “Tuyên ngôn độc lập”, sáng tạo “Tuyên ngôn nhân quyền”, anh hùng dân tộc Ấn Độ Mahatma Gandhi đã sáng tạo ra “Cách mạng phi bạo lực”, Martin Luther King của Mỹ sáng tạo ra “Tôi có một ước mơ”, họ đem những tư tưởng văn minh này vào thực tế, sáng tạo ra lịch sử huy hoàng, trở thành những cột mốc cho nhân loại hướng tới văn minh.

Sáng tạo lịch sử khác sáng tạo văn minh

Từ trước tới nay, lưu manh không biết sáng tạo lịch sử, chỉ biết sáng tạo sự ngang tàn bạo ngược. Tuy vậy lưu manh cũng có thể sáng tạo lịch sử, nhưng lưu manh không thể sáng tạo lịch sử của văn minh, chỉ có thể sáng tạo lịch sử của sự phá hoại, sáng tạo lịch sử tàn sát. Lưu manh từ trước giờ chỉ biết sáng tạo bạo lực, sáng tạo chiến tranh, sáng tạo sự hoang đường, sáng tạo tai nạn.

Nếu một dân tộc mà nhóm người lưu manh giữ vai trò chính trong thời gian dài, thì sẽ trở thành dân tộc “ỷ mạnh hiếp yếu”, trở thành một dân tộc hung bạo, trở thành một dân tộc hủ bại biến chất.

Đạo lý như thế này, lẽ nào còn cần ai chứng minh sao?

Hoàng Hà (biên dịch)



16-7-2017

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nợ công tăng nhanh nhất

Tổng nợ công của Việt Nam ước khoảng 63,7% GDP vào cuối năm 2016, theo số liệu từ WB...

Nguyên Vũ

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nợ trên GDP tăng nhanh nhất, khi tăng khoảng 10% trong 5 năm qua. Số liệu trên được đưa ra trong phần chuyên đề hướng tới củng cố tài khoá chất lượng cao của báo cáo cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam, do Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện, vừa công bố chiều 13/7.

Tác giả báo cáo cho rằng, Chính phủ Việt Nam đã cam kết mạnh mẽ nhằm khôi phục kỷ cương ngân sách, và để làm được điều đó vào thời điểm này, cần phải có các biện pháp củng cố tình hình ngân sách chất lượng cao.

Nhấn mạnh từ báo cáo chuyên đề là bội chi ngân sách (tính cả nguồn ngoài ngân sách) ước tăng lên khoảng 6,5% GDP trong năm 2016 so với 6,2% năm 2015, dẫn đến tổng nợ công của Việt Nam ước khoảng 63,7% GDP vào cuối năm 2016, tăng gần 13 điểm phần trăm so với năm 2011, và đang tiến sát mức trần quy định là 65% GDP.

Theo phân tích của chuyên gia WB, cho dù có thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng, nhưng nếu xu hướng gia tăng nợ công nói trên tiếp diễn, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những mối lo về bền vững tài khoá.

Vẫn liên quan đến xu hướng nợ công và bền vững tài khoá, báo cáo cho rằng, dư địa ngân sách đang ngày càng mỏng, khiến nợ công có thể mất bền vững ngay cả khi có những cú sốc nhẹ. Nghĩa vụ nợ dự phòng - bao gồm những rủi ro tiềm ẩn từ các doanh nghiệp Nhà nước và ngân hàng - khi được hiện thực hoá, có thể làm cho Việt Nam thêm dễ tổn thương.

Với nợ công đang ở mức cao, Việt Nam còn ít dư địa để có thể vận dụng chính sách tài khoá nhằm đối phó với biến động chu kỳ. Theo chuyên gia WB, điều này cho thấy tầm quan trọng của việc phải củng cố tình hình tài khoá và đẩy mạnh cải cách cơ cấu.

Một vấn đề khác cũng được nhấn mạnh tại báo cáo này, là tỷ lệ huy động thu trên GDP đang có xu hướng giảm dần, trong khi áp lực chi tiêu công cả về đầu tư và thường xuyên vẫn cao, và các chỉ số an toàn nợ đã gần sát các giới hạn an toàn theo luật định.

Báo cáo cho rằng, trong thời gian tới cần có một lộ trình củng cố tài khoá để đảm bảo sự bền vững tài khoá song không hoặc ít ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế.

Khuyến nghị từ WB là cần tiếp tục cải cách chính sách thuế theo hướng đẩy mạnh huy động thu nội địa, cân nhắc từng bước thu hẹp danh mục không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng, chuyển các mặt hàng chịu thế 5% sang 10%, tiến tới áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng duy nhất.

Việt Nam còn được khuyến nghị từng bước tăng thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với những mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng (như thuốc lá, rượu bia...), để không chỉ giúp huy động thu được cao hơn, mà còn hạn chế được những thói quen không lành mạnh.

Trong báo cáo cáo chuyên đề, WB cũng khuyến nghị Quốc hội và Chính phủ Việt Nam cân nhắc một số nội dung trong quá trình sửa Luật Quản lý nợ cộng, trong đó có việc cần làm rõ sự khác biệt giữa chức năng chính sách tài khoá và chức năng quản lý nợ.