Bút ký: Về thăm quê Tết Bính Thân

Xuân Thọ

Bút ký này chỉ nêu những cảm nghĩ của tôi về những gì đã chứng kiến trong 3 tuần ở Việt Nam. Mọi nhân vật trong bài viết đều có thực 100%, tuy có vài người đã được đổi tên (Có thể có người cũng đang đọc ở đây)

Thế là tết vừa rồi tôi lại trở về Việt Nam. Tôi rất mừng mỗi khi được về thăm má tôi ở Sài Gòn và gia đình vợ ở Hà Nội. Chuyến về này đã được chuẩn bị từ lâu nên tôi sớm mua được vé Vietnam Airlines khá rẻ.

1- Ách tắc, không chỉ là vấn nạn của giao thông

Tuy đã đọc rất nhiều ca thán, chỉ trích về hãng hàng không này, và mặc dù tin chắc là trong nội bộ họ có tham nhũng, tôi vẫn thích bay Vietnam Airlines. Lý do đơn giản vì được bay một mạch non-stop từ Frankfurt về Sài Gòn, được bay từ Sài Gòn ra Hà Nội và từ Hà Nội về Frankfurt trở lại với giá vé phải chăng. Các chiêu đãi viên đôi khi chưa chuyên nghiệp lắm, nhưng cũng là những người Việt dễ mến. Thiện cảm này có thể được nhân lên, nếu tâm lý nhược tiểu dân tộc không đè nặng lên họ.

Trên chuyến bay từ Sài Gòn ra Hà Nội, còn một hàng 3 ghế trống. Một gia đình có cháu bé và rất nhiều quần áo, bình sữa, đề nghị cô chiêu đãi viên cho phép người chồng bế con lên đó ngồi cho rộng. Cô chiêu đãi viên nói đã sắp xếp cho một hành khách khác rồi, để cô sẽ tính. Một lát sau, một bà tây được ưu tiên ngồi hàng ghế đó. Người chồng lại năn nỷ cô chiêu đãi viên. Sau khi trao đổi với bà tây, cô đồng ý để hai bố con lên ngồi hai ghế còn lại. Cháu bé đi máy bay, chưa biết tự cân bằng áp suất trong khoang tai nên khi máy bay cất cánh hay thay đổi độ cao, cháu đau đầu, khóc vật vã. Người được ưu ái là bà tây, do không chịu được tiếng khóc đành quay về chố cũ ngồi cạnh ông tây. Hai bố con lại được hưởng sự ưu tiên đáng phải có: chỗ nằm rộng rãi để cháu bé nghỉ sau cơn khóc mệt mỏi. Công bằng đã tự khôi phục.

Tuy nhiên, cần sòng phẳng nhìn nhận, so với các hệ thống giao thông công cộng khác của nhà nước (đường sắt, đường bộ, đường thủy, ) Vietnam Airlines có bộ mặt sáng sủa hơn cả và cũng đã tạo ra khả năng khiêm tốn trong cạnh tranh quốc tế. Số lượng khách nước ngoài càng ngày càng tăng cũng khẳng định nhận định trên của tôi. Trong chuyến từ Đức về Việt Nam trên chiếc Boeing Dreamliner 787 mới tinh, có nhiều khách quá cảnh đi Úc và Singapore qua đường SGN.

Sân bay Tân Sơn Nhất không có gì thay đổi so với lần về trước, sỹ quan biên phòng vẫn cần tới 2-3 phút cho một người, trong khi lượng khách ngày càng tăng

Sáng sớm ngày 26 tháng chạp, hàng triệu nguời lao động đã rời thành phố về quê nghỉ tết mà đường vẫn đông nghịt xe cộ. So với lần về cuối cùng năm 2013, giao thông Sài gòn càng ngày càng bị nghẽn tắc và thời gian từ sân bay Tân Sơn Nhất về nhà má tôi ở Quận 7 đã kéo dài gần gấp đôi. Nghẽn, vì xe cộ quá nhiều, nghẽn vì con người ta đua nhau chạy ra đường để kiếm sống, một người dân mỗi ngày phải lên xe máy chạy ra đường ít nhất 3-4 lần. Nghẽn tắc cũng vì thói bon chen, ăn thua nhau từng tý đã ngấm cả vào cách đi xe, nghẽn tắc vì sự bất chấp pháp luật của hầu hết mọi công dân. Cuối cùng và chủ yếu nghẽn tắc vì một nền hành chính bất lực và một hệ thống quản lý không sử dụng trí tuệ, thấp kém về văn hóa.

Tôi hay viết về giao thông ở Việt Nam vì nó thể hiện rõ nét nhất nếp sống văn minh của một dân tộc. Nếp sống này được xây dựng và hình thành bởi sự điều hành của một nhà nuớc. Phải nói rõ điều này để ai đó, khi bị tắc đường đừng than trách "dân mình ý thức kém!", để các quan chức khỏi biện bạch: “dân mình có thói quen của nền sản xuất nhỏ".

Được may mắn tiếp quản miền Nam sau ngày 30.4.1975, tôi vẫn khâm phục kiểu cách người miền Nam hồi đó giao thiệp với nhau và nhất là cách họ tham gia giao thông. Miền Nam trước năm 1975 chưa phát triển như bây giờ, nhưng chính quyền đã tìm cách đưa văn minh công nghiệp vào cuộc sống của người dân, đa số từ nông thôn chạy trốn chiến tranh đổ về thành thị. Ngày nay nếp sống đó đã biến mất bởi công cuộc công nghiệp hóa, đô thị hóa đang được tiến hành bởi những tư tưởng coi thường văn minh, không chấp nhận các giá trị chung của nhân loại.

Tôi đã chứng kiến một lần tắc đường ở quận Gò Vấp, khi mà hàng chục ngàn xe máy, xe ô tô từ 4 phía của ngã tư cứ từng bước nhả khói, nhích từng phân, dồn về chố tắc. Dưới trời nắng 34-35 độ, hàng chục ngàn phân khối khí thải cứ tuôn một cách vô ích ra không gian ngột ngạt. Có thể coi đó là cảnh "Apocalipse Now thời bình". Phía sau tôi khoảng 30 m là một chiếc xe cứu thương, tuy biết là vô phương, vẫn cứ rú còi, tưởng như muốn át đi tiếng gầm của hàng ngàn động cơ xe con khác. Không biết trong xe có bệnh nhân hay không, nhưng chắc chắn lái xe tuy biết được rằng, tiếng còi của anh ta chỉ góp phần làm tăng sự rối loạn, chứ không thể đảm bảo sự ưu tiên, vẫn cứ tiếp tục bóp còi vì vẫn nghĩ về quyền lực của nó.

Ở Hà Nội, trên đường từ bệnh viện Bạch Mai về nhà vào buổi sáng, đúng giờ đi làm, tôi cũng chứng kiến một nghịch cảnh khó quên. Đường Lê Duẩn, đoạn đi qua công viên Thống Nhất, bị tắc cả hai chiều (có lẽ ngày nào cũng vậy, ngoài cuối tuần). Trong khung cảnh đó, một cảnh sát giao thông đi xe mô-tô phân khối lớn, có đèn đỏ, từ phía sau tìm cách chen lên. Không biết có phải anh muốn đến ngã ba Trần Nhân Tông để điều hành giải tỏa hay không? Nhưng anh ta cũng chung số phận như mọi người. Trong hoàn cảnh đó, chẳng ai coi trọng cài còi to và ngọn đèn chớp đỏ, nhô lên trên cái mũ cảnh sát của anh ta nữa. Những đồng bào khôn ngoan nhất của tôi, và cũng có may mắn đi bên mép đường, đều tìm cách vọt lên vỉa hè công viên Thống Nhất để mong hơn được người khác vài chục mét. Thấy vậy anh cảnh sát cũng tìm cách tham gia vào hàng ngũ những kẻ phá lệ. Nhưng oái oăm thay, anh ta đang đi giữa đường, chứ không ở bên mép. Không cam chịu, anh tìm cách quay ngang xe để sang vệ đường: Lần này thì cái đèn đỏ chởp giật và còi hụ của xe chuyên dụng cảnh sát đã phát huy tác dụng, và anh ta cũng phóng lên vỉa hè, lách qua mọi chướng ngại vật do công nhân xây dựng để lại, để lao lên phía trước. Trong hoàn cảnh những kẻ phá lệ đông như kiến thì anh cũng không đi xa được. Vỉa hè cũng tắc!

Ở Việt Nam hiện nay, những người khôn hơn, hoặc có quyền lực hơn (như ví dụ của anh cảnh sát và anh lái xe cứu thương), dù có ưu thể hơn người được chút ít, cuối cùng cũng cùng chung số phận như người khác. Sẽ không ai đi được xa, nếu ai cũng chỉ tìm cách tự cứu mà không chịu chung tay gỡ những nút thắt đang trói chặt cả xã hội. Trong một thành phố ngập lụt thì xe Rolls&Roys có hơn gì xe đạp?

Ở Sài Gòn, tôi không có xe máy nên đi đâu cũng nhờ thằng cháu chở đi. Cháu tôi là kỹ sư cơ khí từ Quy Nhơn vào Sài Gòn kiếm việc làm. Má tôi để cháu ở với bà cho vui cửa vui nhà. Trong lúc chờ vận may, cậu ta vận dụng tay nghề cơ khí, tự thửa lấy một hệ thống làm kem, lắp ngay trong sân nhà, với hy vọng sẽ làm được kem để giao cho các điểm tiêu thụ nhỏ và vừa. Nhưng khởi nghiệp mà ít vốn liếng và kinh nghiệm tiếp thị thì vô cùng khó. Do vậy nên cháu có thời gian chở cậu đi thăm bè bạn họ hàng. Khi ra Hà Nội mượn được xe máy của người bạn, tôi tự đi xe máy để cơ động về thời gian

Đi xe, tôi nhận ra một điểm tích cực, đó là đã xuất hiện một tầng lớp người biết dừng đèn đỏ, biết chờ đèn xanh. Bên cạnh vô số người tiếp tục vi phạm giao thông, lác đác đã có người chờ đèn xanh tại một ngã tư vắng tanh, vào buổi tối. Ý thức công dân đang xuất hiện trong một thiểu số nhỏ.

Điểm tích cực thứ hai ai cũng thấy là hệ thống đường cao tốc được xây dựng quanh Hà Nội và Sài Gòn. Tuy các đường cao tốc này còn xa mới xứng với khái niệm "cao tốc", nhưng chúng cũng góp phần làm giảm sức ép đô thị hóa, cơ giới hóa, mà dù muốn hay không, đang ngày càng gia tăng bởi quá trình hội nhập quốc tế của đất nuớc. Giảm, có nghĩa chỉ là tạm thời và cục bộ chứ không giải quyết dứt điểm được, cũng như đối với những bài toán cấp nuớc, thoát nuớc hay thải rác ở các đô thị vậy.

Lý do chính là mọi việc làm chắp vá này không nằm trong một giải pháp tổng thể về kinh tế xã hội nên các vấn nạn về giao thông, về cấp nuớc, thoát nuớc, về môi trường, vệ sinh thực phẩm, y tế, giáo dục v.v. vẫn ngày càng trầm trọng. Đau khổ hơn nũa là, cái giá để Việt Nam đạt được mức khiêm tốn như hiện nay có thể cao gấp nhiều lần ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Giá một cây số đường cao tốc ở ta đắt hơn bất cứ nơi nào, vậy mà xe ô tô chạy nhanh là bể lốp. Giá xây một cầu tiêu ở trường học vùng nghèo cao đến mức cả xã hội bức xúc, vậy mà các cháu nhỏ phải nhịn cả ngày để về nhà đi vệ sinh. Đầu tư của cha mẹ cho con cái đi học ở thành thị Việt Nam, nếu tính cả thời gian, cao hơn ở nhiều nuớc phát triển, vậy mà chất lượng học sinh ra trường vẫn thấp.

Nghịch lý của quá trình phát triển ở Việt Nam: Càng đổ nhiều tiền vào, càng ách tắc! Nguyên nhân nằm ở cái cổ chai tham nhũng của một nhà nước không minh bạch, của một hệ thống quyền lực không được kiểm soát.

2- Người thân và bạn bè: những tương lai bất định

Ngày tết ở Việt Nam là ngày gia đình sum họp. Năm nào cũng vậy, mấy anh em tôi thay phiên nhau về ăn tết với má tôi, đã ngoài 90, đang ở Sài Gòn với mấy đứa cháu. Đối với tôi, mỗi lần về đều là để gặp lại họ hàng, bạn bè chứ không phải để ăn tết. Người Việt thời "đổi mới" cũng thay đổi cả nếp sinh hoạt tết, do vậy những lần về VN, tôi hoàn toàn không cảm nhận hương vị tết quê hương. Ngày nay tết vắng tiếng pháo, không có mùi bếp lửa, bánh chưng, các món ăn đều có mùi "dịch vụ".

Má tôi thì năm nào cũng được con cháu khắp nơi về chúc tết, vì bà là người già nhất còn lại của cả hai họ. Năm nay bà cứ mong gia đình cậu em họ tôi mà không thấy nó ghé qua. Ngày mồng 3 tết cậu em họ (tuy là em nhưng cũng 70 tuổi) gọi điện thoại chúc tết và cậu xin lỗi năm nay không đến thăm bác được. Lý do là con trai đầu, cháu Lê đã cùng vợ con đi Úc định cư, không có ai chở hai vợ chồng đi, mà hai vợ chồng già cũng không biết đường.

Tôi nhớ hàng năm cháu Lê vẫn chở cả gia đình, ông, bà, con, cháu trên một chiếc xe Toyota 7 chỗ đến chúc tết má tôi. Lê là giám đốc một công ty xây dựng có cả trăm công nhân, đang làm ăn phát đạt lắm. Lê mua đất xây nhà ở Gò Vấp, đón cả bố mẹ già ở Quy Nhơn vào Sài Gòn sống. Vợ Lê làm phiên dịch cho lãnh sự quán Úc tại Sài Gòn cả chục năm nay. Giờ đây cháu được thẻ xanh sang Úc định cư. Lê bỏ cả cơ nghiệp, sang đó đầu quân làm thợ xây dựng để nuôi vợ học tiếp lấy bằng PhD.

Tôi ngạc nhiên hỏi cậu em: Cuộc sống của nó khá vậy sao lại phải đi.

Trả lời: Vì tương lai hai đứa nhỏ anh ơi!

Cô Ph, một người họ hàng, ở Sài Gòn, rất giầu có nhưng chỉ có một cậu con trai. Cậu ta cưới một cô bạn học và cặp vợ chồng trẻ sinh được một cháu trai duy nhất. Là chỗ thân thiết, tôi đã được Ph. mời cơm vài lần, có mặt cả con trai, con dâu và cháu nội khảu khỉnh. Cặp vợ chồng trẻ ở với bà nội và hầu như không bao giờ phải lo gì. Cả việc đi vườn trẻ, đi học của cháu bé, bà cũng lo. Bà cưng cháu nội như cục vàng, cưng hơn cả con trai. Cậu con trai lúc đầu làm nhà nước, nhưng rồi sa đà ăn nhậu, rượu chè bê tha. Nay cậu bỏ nhà nước, đứng ra làm doanh nghiệp tư nhân, cũng thất bát. Cậu biến cái doanh nghiệp đó thành chỗ phá tiền của mẹ. Vợ chồng sinh ra bất hòa. Ph. và cô con dâu khuyên bảo thế nào cũng không được. Có lẽ Ph. đã hết hy vọng ở thằng con trai, nhưng vẫn muốn cứu tương lai của cháu nội và thương con dâu nên đang lên một kế hoạch điên rồ: Cưới chồng cho con dâu! Với điều kiện duy nhất: người chồng mới của nó phải ở phương Tây, cưới xong đưa hai mẹ con nó xuất ngoại, tốn kém bao nhiêu không cần biết. Kế hoạch này, xét về mặt tài chính, pháp lý và thủ tục, không phải là bất khả thi. Điên rồ là ở chỗ bà mẹ tìm mọi cách làm sao cho ông con trai không phá!

Hàng xóm của má tôi là cậu Q, một doanh nhân trẻ, rất thích nói chuyện với tôi mỗi khi gặp nhau ngoài cửa. Cậu mới mở một trường ngoại ngữ ở Quận 7, chuyên dạy Anh văn cho học sinh cấp 1. Học phí cao thấp sao tôi không hỏi, nhưng chỉ biết rằng phụ huynh học sinh đều là các gia đình khá giả ở Phú Mỹ Hưng và giáo viên đa số là người ngoại quốc gốc Anh, Mỹ, Úc. Tôi hỏi cậu, việc các em được chuẩn bị kỹ như vậy có liên quan đến dòng người giàu ra đi không, cậu ta nói luôn:

- Anh ơi, họ đều là dân có của nên họ phải biết phòng thân. Họ đang nói với em là có thể sau tháng 5 này, sẽ có những dòng vốn khổng lồ được chuyển ra nuớc ngoài đó.

Tuy không tin vào những lời đồn đại kiểu này, cũng như không thích dính vào các cá độ trước và trong dịp đại hội 12, tôi vẫn thấy giật mình vì tác động tâm lý của sự kiện này gây ra cho giới trung lưu.

Đối với tôi, dù phe nào thắng thì nhân dân vẫn là người thua. Mọi ý nguyện của dân đâu có được đếm xỉa đến. Mọi vị trí trong các cơ quan quyền lực nhà nuớc đều do bên thắng, bên thua mặc cả với nhau hết. Nhưng với những người có ít nhiều dính dáng đến guồng máy kinh tế ở đất nuớc này thì kết quả của canh bạc đó có ảnh hưởng quyết định đến sự sống còn của cơ nghiệp và gia đình.

Đứa cháu con ông anh tôi, làm việc trong một công ty tư nhân ở Hà Nội, đang làm ăn khấm khá trong lĩnh vực bao bì đóng gói. Gia đình cháu mới mua được một căn hộ cao cấp trong tòa nhà Green City ở Vĩnh Tuy, sắm được cả xe hơi. Tôi rất mừng cho nó, từ tay trắng đã xây dựng được cái cơ nghiệp nhỏ này. Những căn hộ loại này, hiện được xây dựng rất nhiều, áp dụng những kỹ thuật mới nhằm giảm thiểu tiêu hao năng lượng làm mát và sưởi ấm. Trang bị và dịch vụ cho các căn hộ cao cấp đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của tầng lớp trung lưu mới đang hình thành ở Việt Nam. Nhưng do nằm trong một quy hoạch đô thị lạc hậu nên các cao ốc cao cấp này vẫn bị bao vây bởi một không gian ô nhiễm nặng nề, vẫn sử dụng nguồn nước chung của thành phố. Mối đe dọa sức khỏe vẫn treo lơ lửng trên đầu cư dân. Cháu tôi than thở:

-Nuớc mình đang phát triến, đã có nhiều thứ trước kia chỉ nằm mơ. Nhưng con thấy trong toàn cảnh có cái gì đó không văn minh.

Tôi hiểu suy tư của cháu. Nó cũng lo lắng cho tương lai bất định của hai đứa con nó, như hàng triệu người Việt khác. Hầu hết những người có cái nhìn rộng đều biết là những kẻ quyết định tương lai kinh tế của xứ này chỉ sử dụng quê hương làm nơi bòn rút tiền bạc, để đầu tư vào tương lai cho hậu duệ ở nước ngoài, điều mà không phải ai cũng làm được.

Khi đọc trăn trở của nhạc sỹ Tuấn Khanh "Người Việt cố giàu lên để làm gì", tôi cảm thấy buồn cho thân phận dân mình. Về nước lần này, tôi bỗng thấy tấn bi kịch đó đang len lỏi vào gia đình, bè bạn thân thiết.

Mỗi lần trở về, tôi luôn nhận được tình cảm quý mến của bạn bè. Có ông bạn tri kỷ từ 50 năm qua, lần nào cũng đưa xe lên Nội Bài đón và cứ đòi chở xe cho tôi suốt trong những ngày ở Hà Nội. Tất nhiên tôi thích tự do đi lại nên lần nào cũng kiếm xe máy đi. Lần này ông ta cho mượn xe Honda của con trai.

Chúng tôi hay tổ chức những buổi họp mặt với các đồng nghiệp cũ. Bạn bè tôi, mỗi người một số phận, có người ít tuổi hơn tôi nhưng đã thân tàn ma dại. Có người lập doanh nghiệp tư nhân, người thì phất lên vì cổ phiếu, vì bất động sản, nay cũng tham gia vào “câu lạc bộ lớp trên”, mua nhà ở những khu mà đến không khí cũng phảng phất mùi giai cấp. Tôi thật sự mừng cho họ. Tình bạn, tình đồng nghiệp trong các cuộc hội ngộ tuy rất cảm động, vẫn có hai không gian khác nhau. Trò chuyện với những người ít may mắn hay đang sống đạm bạc, họ chia sẻ với những gì tôi cảm nhận. Những người bạn thăng tiến bằng quan lộ, nay đã hạ cánh an toàn thì im lặng trước cách nhìn khắc nghiệt của tôi và chúng tôi phải gượng gạo lái câu chuyện sang hướng khác để khỏi phụ lòng nhau.

Điều đáng ngạc nhiên là nhiều đồng nghiệp cũ của tôi từ đài Truyền hình Việt Nam, một cơ quan đầu não về thông tin tuyên truyền, lại rất ít quan tâm đến các hoạt động xã hội, đến vận mệnh đất nước. Hôm cùng anh Trần Tiến Đức sang nhà anh Nguyễn Quang A chơi, anh Đức cũng chia sẻ với tôi suy nghĩ này.

Tôi thường nhận từ bè bạn những câu như sau:

- Để làm gì? Chẳng giải quyết vấn đề gì cả? Phải sống với lũ thôi! Các ông làm việc của bọn dã tràng!

Trời đất: Nếu không có ông Kim Ngọc xé rào trong những năm 70 thì có thể lúc nào đó nông dân Việt Nam cũng sẽ thoát khỏi Hợp tác xã. Nếu không có những cuộc biểu tình đòi Hoàng Sa - Trường Sa bị công an đàn áp ngay tại Bờ Hồ, thì lúc nào đó chính phủ Việt Nam cũng sẽ phải công khai về tội ác của Trung Quốc trên các hòn đảo mà có nhiều đảng viên chỉ coi là “những cồn cát chim ỉa”. Nếu không có những tiếng nói đòi tri ân các binh sỹ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh vì nuớc thì cũng sẽ đến lúc, nhà nước XHCN phải coi sự hy sinh của họ là bằng chứng về lãnh thổ Việt Nam ở Hoàng Sa. Nếu không có những “con dã tràng” đòi ứng cử tự do vào Quốc Hội thì một lúc nào đó trong tương lai, Việt Nam sẽ có một quốc hội lập hiến như bất cứ quốc gia văn minh nào khác.

Nhưng: Lúc đó là lúc nào? Sớm hay muộn phụ thuộc vào số lượng của những người chịu làm dã tràng. Nếu quá muộn, dân tộc ta sẽ vĩnh viễn đứng vào hàng ngũ những dân tộc làm thuê.

Việt Nam hôm nay đã dễ thở hơn những năm 80. Đúng vậy! Trong đó có phần do sức ép từ các đòi hỏi chính đáng của nhân dân. Khắp nơi trên đời này, kể cả ở phương tây văn minh, nhà cầm quyền sẽ không bao giờ tự thay đổi đường lối, nếu không bị tác động của những đòi hỏi và sức ép xã hội.

Như vậy việc Việt Nam đang tụt hậu thê thảm, ngay cả trên sân nhà Đông Dương và Đông Nam Á chính là vì sức ép đòi hỏi thay đổi chưa đủ mạnh, là vì số đông đã chấp nhận để cái cũ, cái hủ lậu ngự trị. Hãy nhìn lịch sử như một nhà ga với những chuyến tầu và hành khách. Nếu chỉ vì sợ vượt lũ mà không dám lên đê, ra ga thì chỉ có lỡ tầu. Lỡ hết chuyến này sang chuyến khác mà vẫn cam sống với lũ tức là chấp nhận vĩnh viễn sống trong bùn lấy và có lúc sẽ chìm đắm. Con tầu tới văn minh không chờ ai cả.

3. An sinh trong vũng lầy.

Vợ chồng tôi đã ngoài sáu mươi nên cha mẹ đều ngoài 90 tuổi, lứa tuổi không thể thiếu bệnh viện và dịch vụ y tế. Bệnh viện là nỗi sợ hãi bất tận của tất cả mọi người Việt, kể cả người giầu có. Đừng tưởng rằng có tiền để chui vào các ốc đảo như bệnh viện Hồng Ngọc hay Pháp - Việt là yên tâm. Một nền y tế hiện đại cần có cả một mạng lưới cơ sở chuyên ngành chất lượng cao, từ các phòng xét nghiệm, các cơ sở phân tich cận lâm sàng đến các bệnh viên chuyên khoa cao cấp, điều mà ở Việt Nam đang thiếu. Singapore và Thái Lan tuy gần nhưng sẽ không giúp gì cho các trường hợp cấp cứu. Hơn nữa, điều cốt tử cho việc cứu người là lòng nhân ái và đạo đức thầy thuốc, những phẩm chất đang bị cạn kiệt.

Trong vài lần về nước tôi đã đến một số bệnh viện ở Sài Gòn và Hà Nội, trong đó có viện Ung bướu (bệnh viện K) và bệnh viện Bạch Mai. Dưới con mắt của tôi, bệnh viên ở đây là mớ hỗn tạp giữa một cơ sở y tế, một cái chợ, một bến xe, một nhà tù và một chút nhà xác. Nhà xác vì người chết quá nhiều, chết vì nhiễm trùng, chết vì cấp cứu chậm, chết nhầm thuốc và cả chết vì… nghèo. Nhà tù vì 4 người chia nhau 1 giuờng bệnh, có người phải chui xuống gầm giường. Bến xe vì hàng ngàn người qua lại đó hàng ngày, xe tắc xi, xe máy đi lại trong sân bệnh viện Bach Mai như mắc cửi, bãi gửi xe máy lúc nào cũng đầy ắp cả ngàn xe. Cái chợ vì người bệnh bắt buộc phải mua hoặc được chào bán tất cả mọi thứ trong các cửa hàng cantine, từ cái bô nhựa, cái bỉm đến ống thuốc tiêm.

Có thể nhận xét của một người sống ở Đức về bệnh viện ở Việt Nam quá khắt khe? Không biết người trong nuớc nghĩ ra sao?

Người dân hay kêu: Nền y tế Việt Nam xuống cấp. Sai! Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã có đầu tư cho y tế trên mức trung bình (Năm 2010, nền y tế Việt Nam được nhà nước chi 6% tổng sản phẩm quốc dân, trong khi ở Thái Lan là 4,6%, Malaysia là 4%)*. Nếu tính chi phí của hàng triệu bệnh nhân tự bỏ ra trong điều trị và kể cả đầu tư tư nhân vào các bệnh viện, trung tâm điều trị thì chi phí cho y tế của VN phải xấp xỉ 10% GDP.

Cháu tôi là kỹ sư hàng đầu của tập đoàn Abbott Medical (Mỹ) tại Hà Nội. Qua đó tôi biết các bệnh viên công Việt Nam đã trang bị rất nhiều máy móc hiện đại của Abbott. Bạn bè tôi bên Siemens cũng cho biết như vậy. Còn các bệnh viện tư thì đương nhiên rồi. Trong nhiều năm qua, số bệnh viện địa phương xây mới và mở rộng cũng rất nhiều.

Người có tiền ở Việt Nam thường chạy đi điều trị ở Thái Lan. Tôi chưa hề vào bệnh viện bên đó, nhưng em vợ tôi, cựu bác sỹ Bạch Mai, từng đi trao đổi nghiệp vụ ở Bankok đã hết lời khen ngợi hệ thống y tế Thái Lan, nơi mà những khẩu hiệu "Lương Y Như Mẹ Hiền“ hoàn toàn vắng bóng. So sánh nền y tế nước nhà với Thái Lan thì thấy: Số giường bệnh/1000 người dân ở Thái là 2,1 trong khi ở Việt Nam là 2,0 (tương đuơng nhau). Số bác sỹ/1000 dân của Thái là 0.39, trong khi ở ta con số này là 1,19**. Nếu chỉ tính số bác sỹ Việt xứng đáng với nghề nghiệp này, không mua bán bằng cấp thì ít ra ở ta con số này cũng cao hơn hoặc xấp xỉ nước bạn.

Như vậy phải khẳng định là trong nhiều năm qua, nền y tế Việt Nam đã được đầu tư tương đối nhiều và về số lượng, đạt mức độ trung bình trong khu vực. Rõ ràng việc chất lượng dịch vụ y tế ở Việt Nam thấp kém hơn hẳn Thái Lan là một thảm trạng không có gì biện bạch nổi.

Nhà nước biện bạch: Hệ thống y tế Việt Nam quá tải: Không đúng! Với chỉ số bác sỹ/đầu người thấp hơn Việt Nam và giường bệnh trên đầu người tương đương Việt Nam, người Thái không kêu than dịch vụ y tế quá tải. Vậy tại sao hiện tượng này lại xảy ra ở một nước XHCN, nơi mà phúc lợi xã hội phải được coi trọng hơn tất cả mọi nơi trên thế giới? Sự quá tải này, theo thiển ý của tôi chỉ là giả tạo, xuất hiện từ trong lòng hệ thống.

Trong phòng VIP C9 Bạch Mai, nơi bố vợ tôi nằm với giá ngất ngưởng 1 triệu VND/ngày (kể cả có tiền cũng không vào được, nếu không quen biết), còn một nữ bệnh nhân khác từ Bắc Ninh về. Bà sốt cao ly bì nên ông chồng lúc nào cũng túc trực với nét mặt căng thẳng. Phòng có hai giường bệnh và có đủ mặt đất cho…2 người nhà. Ông "đồng khổ" kể với tôi là ông may mắn mới đưa được bà về đây. Tiền nong thì con cái gom góp. Ông phải chấp nhận tốn kém như vậy vì "bọn bác sỹ trên đó là một lũ vô lại, chỉ ăn tiền rồi chữa lợn lành thành lợn què, thà mất tiền ở đây còn mong cứu được mạng bà ấy".

Tôi: Vậy người khác không có tiền về Hà Nội thì sao?

Ông "đồng khổ" mặt lạnh như tiền, nói một câu xanh rờn: Thế thì chỉ còn ơn đảng ơn chính phủ! (nguyên văn)

Giả sử, nếu tránh được hiện tượng con ông cháu cha, nếu tránh được việc mua chức mua quyền, nếu có các chính sách nâng đỡ các chuyên gia làm việc ở vùng xa thì các cơ sở y tế cấp xã, tỉnh huyện sẽ có đủ chất lượng giúp cho tuyến trên đỡ bị quá tải. Hiện có nhiều bệnh viện huyện, tỉnh xây cất rất to nhưng ít bệnh nhân, có lẽ chính vì lý do ông "đồng khổ" kia nêu. Nhưng nguồn gốc của nạn con ông cháu cha, của trò mua bán chức quyền ở đâu ra, nếu không từ thể chế?

- Nếu nhân viên y tế làm hết bổn phận của mình thì đã bỏ được khối lượng lớn người nhà bênh nhân ngày đêm tràn ngập các bệnh viện. Phòng cấp cứu C1 Bạch Mai, nơi bố vợ tôi nằm hôm rằm tháng giêng, có ba giường cấp cứu, 3 bệnh nhân và 6 người nhà túc trực bên giường bệnh để làm mọi việc chăm sóc. Còn 2 nhân viên áo xanh ngồi trực chỉ đọc gì đó trên máy tính. Ở các phòng điều trị mà bệnh nhân phải nằm ghép 2, 3, hoặc 4 thêm vào người nhà thì cảnh tượng còn khủng khiếp hơn nhiều.

Chính quyền Đức có ra quy định mỗi con gà trong chuồng phải được hưởng 0,8m²-0,9m²*** . Ở Việt Nam không quy định về diện tích giuờng bệnh nên việc chia 2, chia 3, thậm chí chia 4 cái giường là không phạm luật. Đó là chưa kể số lượng người nhà đi theo. Số đông người nhà sử dụng chung hệ thống nhà vệ sinh dành cho bệnh nhân đã làm cho mọi cố gắng giữ vệ sinh của bệnh viện (nếu có) trở nên mất hiệu lực.

- Nếu bệnh viện đảm bảo người bệnh không phải đi mua thuốc và bất cứ thứ gì, kể cả phim chụp thì đã làm giảm rất nhiều thời gian và nhân lực cho cả hai bên, gia đình và bệnh viện.

- Nếu bệnh viện chỉ còn có một chế độ bệnh nhân, xóa bỏ mọi phân biệt: bệnh nhân có bảo hiểm, không bảo hiểm, chữa tự nguyện, dịch vụ VIP v.v và v.v thì việc tiếp nhận bênh nhân sẽ đơn giản hơn nhiều, tiết kiệm khá nhiều nhân lực và không gian từ các khâu thu ngân, y vụ.

Em vợ tôi, cựu bác sỹ Bạch Mai, đưa bố vợ tôi cấp cứu vào đó, cô phải gọi điện thoại rất nhiều chố để nhờ vả. Ngược lại, tôi để ý một bác sỹ trẻ khác ở phòng cấp cứu C1, anh ta thường xuyên phải chạy ra hành lang để nghe điện thoại, đa số là bạn bè các nơi gọi đến nhờ việc này, việc nọ, chính anh ta bị quá tải vì điện thoại và thời gian nghe điện thoại của anh đã góp phần làm bệnh viện quá tải.

Là một kỹ sư, không có kiến thức tổ chức y tế, tôi không thể đưa ra các giải pháp giúp ngành y tế giải quyết bài toán quá tải, mà chỉ nói lên những quan sát của mình. Mặt khác phải nói thẳng ra rằng, những cái "Nếu" trên đây không phải chỉ của riêng ngành y mà của toàn xã hội, một xã hội mà tôi đã nói ở trên, càng đổ nhiều tiền của vào, càng tự hủy hoại các giá trị của nó.

Bộ Y Tế đổ lỗi: Các nhân viên y tế ở VN không làm đúng bổn phận của họ và hay vòi tiền bênh nhân vì lương thấp: Nói bậy! Một con người bình thường, có đạo đức thì lúc nào cũng phải cứu người bị nạn, dù người đó là ai, dù họ có tiền hay không. Một bác sỹ xã hội chủ nghĩa chắc chắn phải tốt hơn người bình thường. Chỉ những kẻ vô đạo đức mới mặc cả hoặc toan tính khi cứu chữa người bệnh. Việc một hộ lý hay một y tá ngồi chơi, bắt người nhà phải chăm sóc vệ sinh cho bệnh nhân, phải đẩy xe bệnh nhân không phải là vấn đề lương cao hay thấp, mà là một biểu hiện bệnh hoạn của đạo đức nghề nghiệp. Ở Việt Nam đa số các bác sỹ đều sống đủ hoặc sống trên mức trung bình. Nhiều bác sỹ đi làm bằng ô tô, thừa tiền gửi con cái du học Mỹ, vẫn ăn hối lộ. Vấn đề ở đây là đạo đức làm người.

Em gái tôi thường giúp các bác sỹ nhãn khoa Việt Nam sang thực tập tại các bệnh viện mắt ở Đức. Cô hay hỏi các bác sỹ Việt Nam thu hoạch được những gì sau đợt tu nghiêp. Hầu hết các bác sỹ đều có một nhận định:

- Kiến thức chuyên môn thì quả là tuyệt vời, nhưng điều đáng học nhất ở đây là quan hệ giữa bác sỹ với bệnh nhân. Chúng em thực sự bất ngờ, thậm chí cảm động bởi sự ân cần của nhân viên y tế đối với bệnh nhân. Bài học quan trọng nhất của chuyến đi này đối với em là quan hệ "người với người" ở ngoài xã hội và trong bệnh viện.

Rõ ràng các bác sỹ Việt Nam cũng có trái tim và cũng có thể có đạo đức nghề nghiệp như các bác sỹ Đức nên mới phát biểu như vậy. Nhưng, xã hội Việt Nam đã biến họ thành những con người hoàn toàn khác. Không chỉ nhân viên y tế, mà từ giáo viên, viên chức, cán bộ tư pháp, thanh tra, kiểm lâm đến nhân viên bưu điện, điện lực…con người ở ngành nào cũng bị tha hóa. Một khi nền tảng đạo đức bị phá hoại như vậy thì xã hội đang tự phân rã!

Ước tính, có đến 90% người đi học nước ngoài không trở về. Có lẽ phần lớn trong số đó sợ bị tha hóa, hơn là vì chê lương bổng hoặc chế độ đãi ngộ. Quê hương và gia đình có thể cân bằng lại những hao hụt vật chất. Nhưng một khi được tiếp xúc với không khí trong lành, it ai có đủ nghị lực trở lại nơi ngột ngạt, khó thở, dù đó là quê mẹ.

4. Những con dã tràng.

Rosa Luxemburg (1), nữ chiến sỹ cách mạng Đức, đồng sáng lập ra Đảng Cộng sản Đức (KPD), từ năm 1917 đã coi thước đo của Tự Do "là tự do của những người bất đồng chính kiến". (Freiheit ist immer Freiheit der Andersdenkenden)(2). Thước đo tự do này của bà đã được coi như một chuẩn mực chung của nhân loại tiến bộ. 50 năm sau, Trường Chinh, cựu Tổng bí thư Đảng CSVN chỉ coi tự do của văn nghệ sỹ Việt Nam là "Các anh được tha hồ tự do chửi bọn đế quốc đó thôi"(3). Phải chăng khoảng cách về khái niệm tự do giữa hai lãnh tụ cộng sản cũng chính là khoảng cách văn minh giữa hai dân tộc?

Nêu so sánh trên, tôi không muốn hạ thấp dân tộc mình, mà chỉ mong người đọc liên hệ tới khoảng cách để tìm cách rút ngắn. Trong lịch sử nhân loại, việc dân tộc này đi trước trong quá khứ, nhưng tự ru ngủ để rồi bị tụt hậu là chuyện bình thường. Người German (thủy tổ người Đức) đã từng ăn lông ở lỗ khi người Ai Cập đã biết xây kim tự tháp và nghiên cứu thiên văn. Ngược lại, nếu ý thức được sự tụt hậu để vươn lên thì với một dân tộc xuất phát từ những kẻ tù tội, ít học, vẫn có thể xây dựng một xứ sở khô cằn thành một quốc gia văn minh như nuớc Úc.

(So sánh trên chỉ đề cập đến quan điểm tư tưởng của hai lãnh tụ cộng sản ở hai thời đại, chứ không liên hệ đến thực tiễn. Có thể, nếu Rosa Luxemburg thành công, bà cũng hành động không khác những gì các người cộng sản Đức đã làm tại miền đông nuớc này sau chiến tranh thế giới thứ hai. Nhưng lịch sử không có chữ nếu)

Chính vì tôn sùng Rosa Luxemburg, từ năm 1967 khi còn học nghề ở Cộng hòa Dân chủ Đức, tôi luôn quan tâm đến số phận của những người bất đồng chính kiến. Khi còn làm cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tôi đã kính trọng các ông Hoàng Minh Chính và Vũ Đình Huỳnh, vì hai ông này ở cùng khu phố và ba má tôi được phổ biến là phải cảnh giác về họ.

Đối với tôi, chỉ riêng chuyện biết nghĩ khác đám đông và dám bảo vệ quan điểm đó đã là điều đáng khâm phục, chưa kể đến sự phi thường: biết nói ra sẽ phải trả giá bằng tự do cá nhân hay bằng sinh mệnh mà vẫn nói.

Vậy mà những người tôi khâm phục thường hay bị truyền thông chính thống tìm cách bôi nhọ là "Bọn cơ hội", "Đám rân chủ", "Lũ chuyên ăn tiền nuớc ngoài" v.v. Đối với tôi, những con người này chỉ là những người Việt bằng xương, bằng thịt, cũng mang những bản năng, những thói quen tốt, xấu như mọi con người khác. Họ chỉ hơn người khác ở chổ dám bảo vệ chính kiến của mình.

Những mâu thuẫn mất đoàn kết giữa những người hoạt động xã hội có thể có thật, cũng có thể do các âm mưu chia rẽ gây ra, là điều rất đau lòng nhưng không phải dễ tránh. Trong một môi trường mà tự do tư tưởng được coi trọng và không có một thứ kỷ luật nội bộ nào bắt buộc họ phải dấu diếm các bất đồng quan điểm thì việc bộc lộ các mâu thuẫn là chuyện rất dễ hiểu. Mặt khác, do con người luôn có thói quen thích được khẳng định trong bất cứ nhóm đông nào, thì việc tranh giành sự ảnh hưởng giữa các cá nhân có tham vọng là điều không tránh khỏi. Nguyên nhân của tranh giành quyền lực ở trên đời có những điểm giống nhau. Nhưng kết quả của nó thì khác nhau nhiều. Nếu cuộc tranh giành quyền lực giữa những kẻ cầm quyền luôn đem lại quyền lợi, công danh và của cải cho bên thắng, thì cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo của những người bất đồng chính kiến chỉ có thể đem lại sự đàn áp mạnh hơn hoặc án tù nặng hơn cho người thắng cuộc.

Về đến Sài Gòn, việc thứ hai tôi quan tâm sau sức khỏe của má tôi, chính là tiếp xúc những con người mà tôi khâm phục. Điều đáng khích lệ là nhiều người trong đó tuổi còn rất trẻ.

Tôi hẹn gặp Nguyễn Nữ Phương Dung, một nhà hoạt động xã hội trẻ vào sáng 28 tết tại cà phê Chiêu bên đường Hoàng Sa. Số hên ngày tết: cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên cũng tình cờ có mặt ở đó, đang ríu rit bên cạnh mấy cô bạn.

Việt Nam 2016 quả đã thay đổi. Không ngờ cả Phương Dung và Phương Uyên, những người luôn nằm trong danh sách theo dõi của an ninh, vẫn hồn nhiên sống trong môi trường bạn bè bình thường. Không phải tất cả bạn bè của của các cô đều quan tâm đến chính trị, nhưng phần đông người trẻ có nhận thức đã không còn xa lánh những bạn có quan điểm xã hội khác biệt, bị coi là "phản động". Thời kỳ đen tối của chính sách "cô lập những con người có tư tưởng" đang bắt đầu chấm dứt.

Kinh tế tư nhân càng phát triển, không gian sống cho công dân càng mở rộng vì sự phụ thuộc vào nhà nước đã biến mất. Hơn nữa, càng hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, xã hội Việt Nam càng tạo ra cơ hội tìm kiếm tự do. Sau khi được ra khỏi nhà tù tại phiên tòa Long An ngày 16.8.2013 (4), Phương Uyên bị trường Đại học Công nghệ Thực phẩm TPHCM đuổi học. Uyên sốc mất một thời gian dài, tưởng như cánh cửa tương lai đã đóng sập trước mặt cô. Nhưng nay cô bé đã được nhận vào trường RMIT của Úc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Và cô lại tiếp tục nạp năng lượng sống để bù lại những năm tháng tù oan sai, cô đang thiết kế tương lai cho đời mình. Tuy mấy bác cháu chưa hề tiếp xúc trước đó, nhưng cả 3 chúng tôi đã mau tìm được sự tin tưởng ở nhau. Phương Uyên tặng tôi cuốn sách "Ước mơ của Thủy“(5) do cô viết lời tựa. Một lời tựa 36 dòng cho một cuốn sách nhỏ của một cô gái trẻ chỉ nhằm giúp người đọc tìm về cội nguồn dân tộc đã khiến Phương Uyên bị bắt và câu lưu mấy ngày cuối năm 2015.

Nguyễn Nữ Phương Dung, vốn là một cô gái nhút nhát và thiếu tự tin, nhưng mang nặng tình yêu quê hương. Bước ngoặt trong cuộc đời Dung bắt đầu từ cuộc biểu tình ngày 05.06.2011 phản đối Trung Quốc cắt cáp thăm dò dầu khí tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II. Sự kiện đó đã thúc đẩy lòng yêu nước của Dung. Tiếp theo đó, tháng 7/2011 Dung bị bắt khi tham gia biểu tình. Nỗi tức giận vì bị xúc phạm nhân phẩm, nỗi tức tưởi của lòng yêu nước bị đàn áp đã thôi thúc Dung tìm hiểu thêm bản chất của chế độ. Từ đó cô thấy được nhiều bất công trong xã hội, đồng cảm với những con người yếu thế. Càng bênh vực kẻ yếu, cô càng bị đẩy về phía đối kháng với chế độ, điều mà cô không hề muốn. Từ chố muốn đồng hành với nhà nước để bảo vệ quê hương, người ta đã dồn cô vào cuộc đời của một kẻ "bất đồng chính kiến"(6) , một khái niệm chỉ tồn tại trong thể chế độc tài. Nay thì Dung đã xác định rõ mục tiêu và cô chấp nhân cuộc chơi. Dung không hề cảm thấy bị cô lập, ngoài xã hội và trong gia đình. Chuyện bị thu hộ chiếu, cấm xuất cảnh, cô thấy không đáng quan tâm. "Cháu cũng chưa có nhu cầu xuất ngoại trong những năm tới", Phuơng Dung nói với tôi.

Cũng tại quán cà phê này, mấy hôm sau, tôi được gặp Nguyễn Thị Bích Ngà (Ngà Voi), một phụ nữ tích cực tham gia các hoạt động cứu trợ dân oan. Tôi quen Ngà từ lâu, khi Ngà chỉ là một facebooker bình thường, hay trút những bức xúc của mình trước những điều ngang trái lên mạng. Đối tượng phê phán của Ngà hồi đó khi thì là một gã thanh niên mất lịch sự sau vụ va quệt xe máy, lúc là một mụ nhà giàu đối xử ác với một chị bán rau v.v. Nhưng tôi khoái kiểu viết của Ngà. Gặp nhau cách đây vài năm ở Hà Nội, tôi đã mường tượng trong đầu rằng cô gái bé nhỏ, với tính cách mạnh mẽ và lòng nhân hậu này, sẽ trở thành một nhà hoạt động xã hội. Khi đó, nữ doanh nhân Bich Ngà cũng chưa nghĩ là số phận sẽ đẩy cô đến cái địa vị mà ngày nay đi đâu, cô cũng bị an ninh theo giõi.

Cả Bích Ngà, Phương Dung, Phuơng Uyên đều coi chuyện bị theo dõi cũng giống như người không may bị bệnh, phải đeo một thứ gì đó vướng víu bên mình, nhưng rồi mãi cũng thành quen. Họ coi nó như một gánh nặng nhỏ của đời sống, giá mà bỏ được thì hay mà không thì cũng chẳng sao. Họ biết người theo dõi phải làm việc để kiếm cơm, mình cứ làm việc của mình, cuối cùng hai bên phải tồn tại bên cạnh nhau. Đã có tình huống khi cần đi mà không có phương tiện, kêu luôn người đang theo dõi mình qua: "Đằng nào cậu cũng phải đi theo mình, vậy nếu được, cậu làm ơn chở mình luôn đến chỗ đó…". Bên kia sau một lúc bất ngờ, chợt cũng hiểu ra và…. vui vẻ hành nghề xe ôm luôn.

Khi ra Hà Nội, tôi có ghé thăm gia đình luật sư Lê Thị Công Nhân. Tôi gặp Công Nhân lần đầu vào ngày 05.03.2007, khi tôi ghé thăm cô ở văn phòng Luật Thiên Ân, số 10 Đoàn Trần Nghiệp. Tôi bước vào văn phòng thì thấy rất nhiều nhân viên công vụ đứng xung quanh Công Nhân. Cô bước ra bắt tay và tự giới thiệu: "Lê Thị Công Nhân, luật sư về nhân quyền" rồi cô xin lỗi vì bận tiếp khách, mong tôi vào làm việc với các nhân viên khác. Tôi chỉ muốn đến gặp Nhân và Đài để làm quen và tìm hiểu về tình hình giúp đỡ những công nhân đang bị chủ bóc lột, nay thấy cô đang bị lục vấn, tôi chỉ ngồi nói chuyện hai ba câu với mấy nhân viên khác rồi ra về. Thấy tôi ra đi, cô còn chạy ra xin lỗi. Ngày hôm sau, 06.03.2007, truyền thông đưa tin Công Nhân và Nguyễn Văn Đài bị bắt. Từ đó tôi luôn theo dõi số phận của cô và mỗi khi có dịp tôi vẫn ghé thăm chị Lệ, mẹ cô.

Năm 2010, sau khi Công Nhân mãn hạn tù, tôi có ghé thăm. Tôi chỉ mới nhắc qua về ngày đó, cô đã nhận ngay ra tôi và nói: "Cháu nhớ hôm đó chú đeo một cái cặp mầu đen". Quả là một trí nhớ tuyệt vời.

Công Nhân cũng có một thời niên thiếu như chúng tôi, cũng được giáo dục tình yêu Đảng, yêu Bác, cũng từng là "Cháu ngoan Bác Hồ". Thời sinh viên, cô đã ấp ủ giấc mơ về một xã hội tốt đẹp. Cái tên Công Nhân do mẹ Lệ đặt, cũng là để nhắc con gái luôn đề cao công bằng và nhân ái. Khi bắt đầu bênh vực quyền lợi công nhân và dân oan, cô chưa hề ý thức được rằng, việc mình làm sẽ bị coi là "đối lập chính trị". Đối tượng ban đầu của cô luật sư trẻ chỉ là những tổ chức mafia bóc lột và cướp bóc người nghèo. Nhưng các thế lực đằng sau bọn mafia đã cố đẩy cô vào thế đối lập với nhà nước và dĩ nhiên, đã buộc cô phải tự vệ. Càng tự vệ, càng bị đàn áp. Con đường lao lý của một người bất đồng chính kiến cứ thế đi theo vòng xoáy của nó, như muôn vàn trường hợp khác.

Tôi buộc phải chua xót mà kết luận rằng: Ở Việt Nam, hễ ai sống có nhân cách và dũng cảm đứng ra bênh vực lẽ phải thì sớm muộn cũng sẽ trở thành kẻ "bất đồng chính kiến".

Ngô Duy Quyền, chồng Công Nhân cũng vậy. Một kỹ sư, với tương lại sán lạn trong một công ty sở hữu trí tuệ, dám bất chấp sự phản đối của gia đình, đến với một người con gái mới ở tù ra, còn chịu 2 năm quản chế, bệnh tật đầy người, không còn chút cơ hội nghề nghiệp nào, sống nhờ người mẹ già. Đó chắc chắn không phải là một tình yêu bình thường. Từ ngày cưới Công Nhân anh bị mất việc ở công ty cũ. Ở những công ty mới, anh không bao giờ trụ được lâu, vì chủ luôn bị áp lực của an ninh. Nay anh lay lắt nuôi vợ con bằng nghề nông, làm chung với người em trai, Ngô Quỳnh, cũng là cựu tù nhân lương tâm. Nhân và Quyền đã bị dồn vào con đường cùng và nay, họ chỉ còn quan tâm đến cuộc đấu tranh vì công lý, chống lại áp bức. Cho đến ngày tôi viết dòng này, Quyền lúc nào cũng sẵn sàng để công an đến dẫn đi. Vụ bắt (cóc) anh hôm 04.02.2016 coi như vẫn chưa kết thúc.

Ngày biết tin Nhân và Quyền cưới, tôi đã mừng hơn là nếu con tôi cưới vợ. Tôi nói đùa với vợ: "Đám cưới Nhân - Quyền, thế này làm gì mà bao kẻ chẳng giật mình!". Năm sau nghe tin Công Nhân sinh bé Lucas mạnh khỏe, cả hai vợ chồng tôi mừng muốn khóc. Nay nhìn bé Lucas tha thẩn chơi bên mẹ, tôi chỉ thầm mong cháu được cách ly khỏi mọi sự độc ác và đểu cáng đang hàng ngày giáng xuống đầu bố mẹ. Lucas đã chứng kiến cảnh công an va chạm với bố mẹ nên đến vườn trẻ, cháu đã bị hoảng loạn, khi cô bảo mẫu theo thói quen hay đem câu "cô sẽ mách công an bắt bố" ra dọa các cháu. Đêm về, Lucas hay giật mình, khóc thét. Từ đó đến nay, Lucas bỏ vườn trẻ.

Tình cờ, tại nhà Công Nhân tôi được làm quen với chị Nguyễn Thúy Hạnh, môt nhà hoạt động xã hội ở Hà Nội. Tôi mới biết tên chị thời gian gần đây, sau khi chị tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14/2106. Thúy Hạnh có khuôn mặt dễ mến và cách nói chuyện rất nhẹ nhàng. Chị hỏi tôi tại sao người Việt ở nước ngoài quan tâm đến tình hình chính trị Việt Nam hơn người trong nước?

Tôi nói: "Người Việt ở nước ngoài luôn bị thiếu "quê hương" nên mối quan tâm của họ lớn hơn. Cái gì thiếu mà không quý hả chị". Câu trả lời mang tính “cân đong" của tôi đã làm chị bật cười một cách vui vẻ.

Qua trao đổi, tôi thấy Thúy Hạnh là một người có trái tim lớn, luôn đồng cảm với nỗi đau của đồng bào. Tôi biết là với khả năng của Thúy Hạnh, nếu muốn, chị có thể nhảy vào sân chơi của tầng lớp trên, sống cách ly hoàn toàn với những nỗi bần hàn, bỏ ngoài tai mọi bế tắc nhức nhối. Những người thành đạt như Thúy Hạnh nhưng lại đứng về phía người nghèo, chấp nhận hy sinh giầu sang phú quý để đấu tranh cho công bằng xã hội đang trở thành một hiện tượng mới ở Việt Nam. Bằng chứng rõ nhất là sự lên tiếng của giới luật sư thời gian gần đây.

Nghề luật sư ở Việt Nam hiện tại là nghề dễ kiếm tiền đối với những người khôn ranh, biết len lỏi và có mối chạy án. Đối với người có lương tâm, đây lại là nghề nguy hiểm nhất. Nguy hiểm vì kẻ ác đã nhận ra anh là kẻ biết được bản chất của nó. Để tiêu diệt được Mafia anh phải đi thẳng vào hang ổ nó.

Luật sư trẻ Lê Luân đã chọn con đường này. Tôi rất thích đọc đoạn các tự thoại của Luân trên Facebook. Tuy lớn tuổi hơn Luân, nhưng tôi rất phục cách đặt vấn đề của cậu. Dân gian có câu "Mã tầm mã" và…Thọ đã tìm Luân. Hai anh em hẹn nhau ở quán Tcofee Vincom đường Nguyễn Chí Thanh.

Nông thôn Việt Nam không chỉ là vựa thóc nuôi sống dân tộc, mà còn là nơi sản sinh ra rất nhiều nhân tài từ cổ chí kim. Người tài xuất thân từ nông thôn, bên cạnh trí thông minh còn là một kho các kinh nghiệm về thiên nhiên và luôn có lối sống chất phác, bình dị. Tôi xếp anh Nguyễn Quang A và Lê Luân vào trong số này. Luân học rất giỏi, nhất là môn toán, nhưng số phận đã đưa đẩy chàng trai Quế Võ, Bắc Ninh này đến với nghế nguy hiểm nhất ở Việt Nam.

Là người thông minh, Luân đã ý thức được từ lâu: chế độ toàn trị là nguyên nhân của mọi bế tắc xã hội. Nhưng khi bắt tay vào vụ án Đỗ Đăng Dư bị chết trong tay công an, và nhất là sau khi bị côn đồ hành hung, đánh sưng mặt trong vụ "Bụi Chuơng Mỹ", nhận thức của Luân đã có một bước ngoặt. Luân coi nhiệm vụ của một luât sư có lương tâm giờ đây không chỉ là bênh vực cho công lý trong từng vụ án, mà phải cất tiếng nói làm thay đổi xã hội, phải chung tay triệt tiêu nguồn gốc của bất công và tội ác.

Vì vậy Lê Luân đăng ký ứng cử đại biểu Quốc Hội khóa 14, như anh Nguyễn Quang A, như các chị Thúy Hạnh, Đặng Bích Phượng, như anh Nguyễn Tường Thụy và hàng loạt các luật sư, kỹ sư khác. Tất cả mọi ứng cử viên, không ai trông mong gì vào thắng cử. Mục tiêu của những người tự ứng cử trước tiên không phải là vào Quốc hội, mà là muốn thức tỉnh nhân dân về quyền lợi và nghĩa vụ. Vậy không làm bây giờ thì bao giờ?

Luân kết luận: Hãy hành động! Đã có một lần, sẽ có trăm lần!

Ngày hôm đó, cả hai chúng tôi chưa hình dung được hiệu ứng tuyết lở (avalanche) của phong trào tự ứng cử. Khởi đầu chỉ có anh Nguyễn Quang A, rồi kéo theo một số nhà hoạt động xã hội quen thuộc. Những người này đương nhiên bị gây khó khăn trong việc nộp hồ sơ ứng cử. Trên mạng xuất hiện những ý kiến cho là những ứng cử viên này tập trung thách thức Đảng Cộng Sản. Giờ đây, sự kiện nhiều người chưa hề nằm trong danh sách "bất đồng chính kiến" như nghệ sỹ Vượng Râu, ca sỹ Mai Khôi, nghệ sỹ Hùng Cửu Long và cả nhà báo Trần Đăng Tuấn tham gia ứng cử đã khiến đợt bầu cử Quốc hội năm nay trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết.

5- Những đốm sáng

Không nên coi việc làm của những con dã tràng là vô ích. Dù luôn bị phá, it ra nó cũng đã đi vào đầu của mọi người Việt qua câu "Dã tràng xe cát biển Đông". Vâng, Biển Đông chứ không phải biển Nam Trung Hoa.

Bên cạnh những con người đáng khâm phục nói trên, còn nhiều cố gắng vươn lên khác của lớp người Việt tinh tú (Elite) và không phải ai cũng kiếm tiền kiểu chụp giật để tuồn ra nuớc ngoài. Trong bóng đêm của sự tha hóa, vẫn có nhưng đốm sáng cố đưa hơi ấm của tình người, của trách nhiệm công dân vào cuộc sống. Đó là những hy vọng của tôi về dân tộc này.

Thành phố Cologne (Köln), nơi tôi sinh sống, cứ hai năm một lần lại mở hội chợ thực phẩm ANUGA. Hai hội chợ gần đây nhất tôi đều có khách trọ từ Việt Nam sang, anh Khiêm, giám đốc một công ty chế biến thực phẩm. Anh thường đi cùng một nhân viên bán hàng. Hai thầy trò tiết kiệm từng đồng, chỉ đi tàu điện, từ ngày sang đến ngày về. Toàn bộ hàng trưng bày được họ đóng vào hai valise rồi khệ nệ mang theo máy bay để tránh cước hàng chậm.

Biết tôi về nước, anh mời tôi lên thăm nhà máy, nơi anh đang tiêu thụ nông sản và tạo nguồn sống cho hàng chục ngàn hộ nông dân các huyện xung quanh.

Nhà máy của Khiêm cách Hà Nội 50km về phía bắc, trên một mảnh đất khoảng 2 hecta. Cơ ngơi xây cất gọn nhẹ, sạch sẽ, bao gồm nhà văn phòng có kèm nhà ăn, nhà bếp, các xưởng sản xuất, nhà kho, khu vườn ươm cây giống và cả một hệ thống xử lý nước thải có bể lọc. Là một tín đồ của phong trào xanh ở Đức, tôi rấ thích thú nghe Khiêm kể về các biện pháp tích nước lạnh về đêm để tiết kiệm điện, về các phương pháp canh nông không sử dụng chất độc của anh. Nhà máy của anh có riêng đội ngũ kỹ sư nông nghiệp để nghiên cứu cây trồng phù hợp với thổ nhưỡng các địa phương.

Không có chuyên môn về công nghệ thực phẩm, tôi khó đánh giá công bằng chất lượng của những khu xử lý vô trùng, của những xưởng sản xuất kín bưng (tôi chỉ được đứng ngoài nhìn qua cửa kính). Nhưng ở hội chợ ANUGA chính tôi nghe đại diện các hãng lớn của Pháp, Đức. Thụy Sỹ khen cơ sở của Khiêm, sau khi họ về Việt Nam thăm nhà máy và đến ký hợp đồng.

Hàng năm nhà máy xuất hàng trăm containner dưa chuột lọ, dứa hộp, ngô non, tương ớt, măng tươi.. đi Nhật, Nam Hàn, Mỹ, Đức, Pháp, Thụy Sỹ v.v. doanh thu hàng chục triệu USD/năm. Vậy mà ông chủ không dám đi xe taxi, toàn kéo valise đi tàu điện! Tôi đảo mắt tìm khắp nhà máy, không một khẩu hiệu kêu gọi học tập đạo đức Bác Hồ.

Ông chủ xuất thân từ đồng ruộng này rất yêu quê hương và anh đã tìm mọi cách tạo ra sự gắn bó khăng khít giữa nhân viên và nhà máy, giữa nhà máy và nông dân. 100% cán bộ khung của nhà máy, từ các phân xưởng trưởng, các trưởng phòng đến kỹ sư trưởng, đều được đào tạo từ những chàng trai, cô gái, cần mẫn và chất phác sống ở các xã lân cận. Bữa ăn trưa của 200 công nhân nhà máy, được nấu bởi rau xanh, thịt sạch thu hoạch ngay trong vườn nhà, chắc chắn chất lượng hơn tại nhiều khách sạn ở Hà Nội.

Từ Hà Nội ngột ngạt lên nhà máy của Khiêm, tôi thu được rất nhiều tình cảm đẹp mà trong khuôn khổ bút ký này không thể viết hết. Tôi biết, Khiêm không hề thỏa mãn với những gì anh đã đạt được. Anh luôn bức xúc vì bị nhiều cơ quan chức năng chơi đểu, xin đểu. Anh buồn vì phải tự vùng vẫy trong một môi trường cạnh tranh không lành mạnh, vắng bóng toàn bộ công nghiệp phụ trợ. Nhưng Khiêm sẽ không bỏ cuộc, anh đang ấp ủ kế hoạch mới.

Tôi cũng có quen biết nhiều doanh nhân tương tự, bất chấp những bất cập trong quản lý kinh doanh, bất chấp sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, chấp nhận nỗi đắng cay của tệ nạn tham nhũng để vươn lên xây dựng thương hiệu, tạo ra những sản phẩm đủ sức cạnh tranh. Chỉ xin đơn cử một trường hợp:

Đó là Diệu, một đồng nghiệp trẻ thuộc lứa sau tôi trong ngành kỹ thuật truyền thông. Diệu đã xây dựng công ty của anh thành một lò phần mềm cao cấp cho phát thanh truyền hình. Công ty của chàng phó tiến sỹ tốt nghiệp Ba-Lan là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất dám thuê gian hàng để trưng bày sản phẩm của mình tại hội chợ NAB, hội chợ lớn nhất thế giới về phát thanh truyền hình tại Las Vegas. Cậu học sinh giỏi của trường Phan Bội Châu (Vinh) ngày nào đã cả gan bỏ ra cả chục ngàn USD để tham gia hội Opengear(1), hiệp hội những nhà sản xuất phần cứng chuyên dụng. Diệu cũng bỏ khá nhiều tiền đầu tư thiết bị làm mạch in, máy dán chip SMD cũng như nhân lực để nghiên cứu ra những sản phẩm đủ tiêu chuẩn quốc tế.

Tuy vậy từ nhiều năm qua, quân số của công ty vẫn quanh quẩn dưới 25 người, họ vẫn làm việc trong căn nhà nhỏ ở Hoàng Cầu.

Diệu nói: Giữ cho nó sống là ngon rồi. Lý do chính là những đài có đầu tư lớn như VTV, HTV đều có tâm lý là hệ thống lớn phải làm việc với "Tây" nên giá cao cũng thua, giá thấp cũng thua, kiểu gì cũng thua! Thiếu các dự án lớn, cứ loanh quanh đi nhặt bạc cắc thì làm sao phát triển được hả anh? Phần mềm của mình do người Việt phát triển, có giao diện tiếng Việt, vậy mà cứ dự án lớn là họ yêu cầu phải là phần mềm ngoại, vậy thì bao giờ mới có đủ sức để nâng lên thành thương hiệu có tầm đưa ra ngoài? Loanh quanh rồi chỉ đi code thuê thôi.

Bức xúc chồng bức xúc, nhưng Diệu sẽ không bỏ cuộc. Anh đã xác định như vậy khi quyết định về nước làm việc 24 năm trước. Anh luôn tâm niệm trong cái rủi có cái may. Trượt một gói phần mềm lớn ở khách hàng anh tin là với phần mềm "Tây" được cài đặt, anh sẽ có nhiều việc hơn trong tương lai để làm bởi phần mềm "Tây" không thể đáp ứng công việc hàng ngày của người Việt.

Ở phần trước tôi có than là nhiều bạn bè ở VTV ít quan tâm đến các hoạt động xã hội. Phải chăng công việc ở VTV đã giúp cho họ có được một nền tảng kinh tế tương đối mà ít ai muốn nó bị đe dọa? Nhưng nói vậy thì rất nhiều những người bạn "Dã tràng" của tôi chẳng đang có một cuộc sống ấm no đó sao? Vấn đề chính là ở phẩm chất và bản lĩnh con người. Ở một thời điểm nào đó, con người có bản lĩnh sẽ có quyết định đúng. Trần Đăng Tuấn, đồng nghiệp VTV của tôi đã có những quyết định như vậy.

Tuấn và tôi làm việc ở hai bộ phận khác nhau, ít có quan hệ công việc, nhưng chúng tôi biết và tôn trọng nhau. Năm 2010, khi nghe Tuấn từ bỏ VTV, tôi không ngạc nhiên và còn mừng cho anh. Không ngạc nhiên vì biết tính anh. Mừng vì ra ngoài, anh sẽ tìm thấy nhiều vận hội mới.

Đối với người từng cầm lái con tầu to VTV thì việc điều khiển chiếc ca-nô nhỏ AVG-TV không phải là thách thức. Nhưng AVG-TV dù sao cũng là cơ sở hạch toán tư nhân và quan hệ giữa chủ đầu tư với ban điều hành, với nhân viên cũng là quan hệ hợp đồng. Riêng chuyện đó cũng tạo ra những nhận thức mới. Hơn thế nữa, giờ đây anh đã có nhiều cơ hội để gắn bó với đời thường. Chứng kiến cuộc sống vất vả của đồng bào và trẻ em dân tộc vùng cao, anh đã phát động phong trào "Cơm Có Thịt" (CCT) nổi tiếng trong cộng đồng mạng. Nhờ uy tín và mối quan hệ rộng của Tuấn, CCT nay đã thành một tổ chức nhân đạo chuyên nghiệp, có nhân viên chuyên trách và văn phòng riêng ở Trung Hòa (Láng)

Thanh Hà, em họ tôi cũng có may mắn tiếp xúc với cảnh nghèo khó của người dân vùng biên giới Thanh Hóa. Là người mẹ giàu lòng nhân ái, cô huy động bạn bè lập thành một nhóm thiện nguyên và họ đã tự quyên góp tiền để mua áo ấm và thực phẩm cho các cháu bé người dân tộc. Đa số thành viên của nhóm đều đang làm việc cho các đài truyền hình các tỉnh nên họ có rất nhiều thông tin về những nơi nghèo đói. Họ phải tranh thủ quyên góp, mua hàng, đóng gói vào ngoài giờ. Cuối tuần thường là những chuyến đi hàng trăm cây số vượt núi đèo để đến các bản làng.

Vì nhóm của Hà vừa quá bé, vừa không tên tuổi nên nguồn lực có hạn. Nhiều dự án đang phải dừng lại chờ tiền quyên góp. Hà nhờ tôi móc nối với CCT để mong được hỗ trợ. Trần Đăng Tuấn vui vẻ nhận lời tiếp Hà ngày hôm sau.

Bước vào căn nhà nhỏ CCT thuê tại phố Trung Yên, tôi choáng ngợp vì cả núi các bao quần áo, giầy dép, sách vở, các hộp thực phẩm chất đầy từ vỉa hè lên đến nóc, cả mấy tầng nhà. Chúng tôi phải lách qua đống bao ny-lon để đi lên phòng họp gác 2.

Cảnh nghèo khổ ở các nơi Hà đến đã gây xúc động cho tôi, nhưng đối với Đăng Tuấn vẫn chưa thấm vào đâu. Những ngôi trường có tường gạch xây dở chưa được CCT xếp vào loại nghèo. Những lớp học đã có phên liếp che chắn kín chưa được xếp vào loại cần phải cấp tốc giúp đỡ. Còn nhiều cảnh nghèo thảm khốc hơn. Ở đó lớp học chỉ có mái tranh, phên liếp chỉ được xây cao đến 1 mét. Phía trên để trống cho ánh sáng lọt vào lớp, dĩ nhiên là kèm theo gió lạnh thổi vào những đứa trẻ mặc quần thủng đít, đi chân đất.

Việc sử dụng tiền quyên góp được cho đúng chỗ cũng không đơn giản, vì thói quen xin tiền ẩn náu khắp mọi nơi, mọi cấp. Đã có lúc, nhận được báo cáo gấp từ địa phương gửi về, CCT mua sắm đồ đạc theo yêu cầu, chở lên. Đến nơi thì thấy các thầy cô đều đi xe máy đến trường và không ai sẵn sàng đảm nhiệm việc lo bữa trưa cho các cháu. Đoàn kiên quyết mang hàng về để dành cho các điểm khác. Những người tình nguyện luôn phải nói rõ cho các cấp chính quyền địa phương là CCT sẽ không thay thế các cơ quan nhà nước để, giải quyết các yêu cầu của họ.

Những người làm công tác nhân đạo tôi gặp đều rất ít muốn nói về nguyên nhân của sự bất công, của chênh lệch giàu ngèo đang gia tăng chóng mặt ở đất nước này. Họ thầm lặng làm công việc mà lương tri của họ đòi hỏi. Tôi hiểu và đánh giá cao những việc làm của họ. Chúng luôn đem tới cho cả người giúp đỡ và người được giúp đỡ một tài sản chung quí giá: Lòng nhân ái. Một cháu bé nghèo được hưởng tình thương của những người hảo tâm, chắc chắn sẽ mang nó theo vào đời. Đất nước sẽ có thêm một công dân tốt.

Cuộc nói chuyện của chúng tôi luôn bị ngắt quãng bởi các cuộc điện thoại từ các địa phương, bởi các nhân viên đang chất hàng lên xe vào hỏi ý kiến. Tuấn bận tíu tít nhưng vẫn chú ý xử lý việc nào xong việc nấy. Công việc CCT chắc đang chiếm một phần lớn cái đầu và toàn bộ trái tim của ông Tổng giám đốc truyền hình này.

Cuối cùng, nhóm thiện nguyện nhỏ bé của Hà cũng đã tìm thấy ở CCT một đàn anh, một chỗ dựa cho các dự án tương lai. Còn CCT, thông qua mạng lưới thông tín viên của Hà, sẽ tìm thêm được nhiều góc tối mà họ chưa hề biết tới.

Thay cho lời kết

Rời Việt Nam, tôi mang theo những ấn tượng lẫn lộn về một đất nước đang vật vã chuyển mình, về một tầng lớp trí thức vừa chấp nhận cuộc sống trong mụ muội vừa tìm cách biện hộ cho sự bạc nhược, về những doanh nhân đang vùng vẫy trong những tình thế tưởng như vô vọng để vươn lên thỏa mãn ý chí sáng tạo của mình. Ấn tượng mạnh nhất của tôi là một tầng lớp công dân mới đang được hình thành với những tầm suy nghĩ có sức phá vỡ mọi ràng buộc bảo thủ, giáo điều đang rạn nứt trong mọi cố gắng vá víu. Vấn đề chỉ còn là thời gian.

Ngồi bên tôi trên chuyến bay Hà-Nội-Frankfurt là một cô gái mảnh dẻ, có khuôn mặt buồn và phúc hậu. Hằng, một cái tên đẹp, hợp với cô gái gốc Thanh Hóa. Cô sang Đức đã hai năm theo chương trình "điều dưỡng viên Việt Nam" cho các nhà dưỡng lão của Đức. Cô và vài bạn gái nữa được phân về một nhà dưỡng lão cách thị trấn Braunschweig 15 phút xe bus.

Hằng không phàn nàn gì về lương bổng, đãi ngộ cũng như cách đối xử của người Đức với cô và các bạn. Với năng lực của một người tốt nghiệp cao đẳng điều dưỡng ở Việt Nam, cô đã hoàn toàn hội nhập vào cuộc sống ở đây và có thể ở lại làm việc tiếp. Nhưng Hằng vẫn chưa muốn ký vào hợp đồng kéo dài như đề nghị của phía Đức. Cô muốn trở về Việt Nam vì ở đây buồn quá. Tôi đùa: Nếu cháu có người yêu ở đây, chắc cháu sẽ nghĩ khác?

Im lặng một lúc, Hằng trả lời:

- Thực ra cháu không bao giờ nghĩ rằng sẽ sống như thế này. Điều kiện vật chất ở đây cao hơn nhiều ở nhà, nhưng không phải là cái cháu đi tìm. Cháu vẫn thích cuộc sống ở nhà hơn. Hồi đó cháu nộp hồ sơ thi tuyển đi Đức vì cháu hoàn toàn tuyệt vọng trước những thối nát ở những nơi cháu đến xin việc, giả sử có tiền cháu cũng không muốn nộp cho họ.

Chuyến về Tết vừa rồi hầu như chưa giải đáp được cho Hằng: Về nước hay ký hợp đồng ở lại làm tiếp?

Tôi chỉ mong cho quê hương thay đổi để những cô gái như Hằng yên tâm quay về làm việc. Ở đó có nhiều mẹ già đang cần những bàn tay chăm sóc của các cô.

Xuân Thọ - Cologne Tháng 3 – 2016

------------------------------------

(1) Opengear là một liên minh của hơn 20 hãng điện tử hàng đầu trong kỹ thuật truyền thông, chia nhau sản xuất các loại cards xử lý thông tin. Tiêu chí là tất cả các card dù hãng nào sản xuất ra cũng dùng chung một phần mềm điều khiển và phải tương thích đối với một khung máy (Frame) của hãng Ross (Canada). Công ty của Diệu là công ty duy nhất từ thế giới thứ ba tham gia hiệp hội