Mùa này rau cỏ...

Lê Minh Hà


'... Những ngôi nhà bom xô tốc mái...

nay ta về dựng lại...

Mùa hè ơi nắng tràn về thành phố đẹp tuyệt vời...'

Nhạc Cát Vận - phỏng thơ Lưu Quang Vũ


Tháng năm rồi đây. Đã thôi vương vất cái hiu hiu rời rợi của những ban mai ngày chớm hạ. Buổi sáng rỗi rãi đủng đỉnh ra cái chợ nhỏ gần nhà, tha hồ rau cỏ. Còn tươi nõn, xanh hơn hớn. Rau cải, cải Mơ nấu cua ăn bữa chiều mát ruột. Rau dền tía luộc nước đỏ màu vang quý, bìa đậu phụ rán vàng rồi om với mấy quả cà chua hồng đã trái mùa nên được bàn tay phụ nữ nâng niu đặt lên hạ xuống hơi kĩ hơi nhiều. Rau ngót vò kĩ nấu với thịt nạc vai băm nhỏ, phải là thịt băm chứ không phải là mấy miếng sườn đã bị các bà hàng thịt lạng cho đúng là chỉ còn trơ xương. Rau muống luộc lên vớt ra đánh dấm bằng mấy quả sấu tươi, vỏ còn xanh nõn, cùi đã dồn nắng gió đủ chua nhưng cái hạt bên trong còn chưa thật cứng. Hay xào tỏi nhỉ, thêm mấy miếng tóp mỡ còn lại từ hôm kỉa hôm kia. Đĩa rau xanh, bát nước chấm dầm thêm mấy quả sấu hấp cơm chín nục, đĩa thịt kho tàu, hay vài ba con rạm rang khô, và mấy quả cà chưa ngấu hẳn, thế cũng đủ cho bữa trưa giản dị trong một gia đình sống đời giản dị. Bữa quê nhà, không bao giờ được phép quên bát cơm xới đầu tiên, đôi khi là cơm hấp lại, là mì, và ở nhà quê ngày khó thường là bát sắn bát khoai khô gần như toàn phần, người ngồi đầu mâm đừng đưa cho người khác. Bà với mẹ vẫn hằng dặn thế. Nao nao mùi thơm nồi cơm chạm hơi còn nguyên vết mấy quả sấu non vừa hấp, mầu nâu đỏ, chua chua. Nhớ mùi, không nhớ vị, bởi bát cơm đầu nồi ấy, dẫu con gái đã nhanh tay xới trước, cha tôi vẫn dành lại cho mình. Tình thương âm thầm của người cha nóng tính tôi đã cảm được bao nhiêu ngày tháng ấu thơ mồ côi mẹ chính là từ những bữa ăn nghèo trong cái thời khốn khó không của riêng ai.


Bây giờ, đã chẳng còn trẻ nữa, dẫu chẳng khá như ai đất đất cát cát công nọ ti kia thì chí ít ở thành phố miếng ăn cũng đã không còn làm bận trí bận tâm như cái thời xa xôi ấy. Nhưng làm cha làm mẹ thì có bao giờ hết lo toan. Những bậc phụ mẫu đang vào tuổi luống lại nhọc mệt với những điều bận tâm khác. Lo cho con tiền mặc sao cho không lạc mốt để chúng không tủi cùng bè bạn, lo cho con tiền học thêm học nếm không nhỡ ở lớp chúng bị thầy cô 'đì' cho đến chột tinh thần ham học rồi không vào nổi một cái trường nào cho ấm phận về sau. Không mấy ai nỡ lòng kêu gọi con cái so sánh cái tuổi thơ ngây của chúng với cái tuổi thơ ngây của mình. Chao ôi là những lo toan của dân mình. Bao nhiêu đời rồi, lo rạc người, bạc tóc, toàn những cái lo vụn mọn, làm cùn mòn tâm trí. Bao nhiêu đời rồi nghiến răng mà sống chỉ để cho thế hệ sau hơn mình. Không mấy người bình thường dám nghĩ xa hơn về ngày mai. Không mấy người nhận ra sự phi lí trong việc chuyển giao cho thế hệ sau không phải là một thực tại đáng sống mà là một hi vọng vào tương lai. Đấy chắc chưa phải là cội nguồn bi kịch, nhưng đấy chẳng phải là biểu hiện của một bi kịch đằng đẵng phần số dân mình hay sao?


Chao ôi là tương lai! Tương lai ở đâu những ngày buổi chiều tan tầm Hà Nội người xe nháo nhác. Tan trường, từ ngoại ô vào thành phố, thấy những cái xe mải mốt lăn phía trước xe nào cũng chằng thêm bó rau to vật, tả tơi. Rau muống mậu dịch dĩ nhiên chẳng ngon chẳng đẹp như hàng rau ở chợ, nhưng bán rẻ nên được chờ được đợi được mua nhiều. Người ăn một phần, một phần dành cho chị ỉn trấn trong toa lét hay góc bếp. Hỏi sao mua nhiều rau thế là một câu hỏi vô duyên, chẳng khác câu hỏi thăm sức khoẻ cửa miệng dân tây, hay câu hỏi đi đâu đấy vừa đi vừa quăng lại của dân mình. Mà nếu có hỏi, thì câu trả lời đã sẵn rồi, nhái lời một bài hát đã từng được nữ ca sĩ đủ thanh đủ sắc Ái Vân mang đi thi thố một thời và giật giải cao nhất hẳn hoi: 'Cho ngày nay, cho ngày mai, cho hai ngày sau.' Giá có hát đúng lời bài hát đó để trả lời nhau 'Cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau' thì có lẽ cũng chẳng mấy ai nghĩ là ngoa ngoắt quá trong thời buổi ấy.


Nghĩ đi nghĩ lại, lại thấy phục thế hệ mình. Cơm tù Sơn La Côn Đảo các cụ ngày xưa nếm có lẽ cũng chẳng kém ngon hơn cho lắm so với bữa cơm của người dân có độc lập tự do buổi ấy. Thì cũng gạo hẩm và sạn nhai văng cả răng ra khỏi miệng. Xếp hàng ít nhất hai lần trong tháng mới đong được đủ tiêu chuẩn 13 cân một đầu người. Tối tối nhà nào nhà nấy trong khi con lớn đã long rong ngoài phố hẹn hò nhau, con nhỏ thì ú tim ú òa quanh gốc me gốc sấu hay đuổi nhau trong những hầm công cộng mênh mông mãi chưa được lấp, các bậc ông bà cha mẹ kính trễ mũi vừa nghe chương trình ca nhạc vừa cắm cúi nhặt gạo ra khỏi thóc và sạn chuẩn bị cho bữa mai. 'Đi dọc Việt Nam theo bánh con tàu quay...' '...Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay...' Toàn những âm giai nức hồn thời đại. Đấy là chuyện có thật, và nói thật là có ích cho chúng ta thuở ấy. Không có những bài ca như thế, lời thật hay lời nhại thì khó mà chống chèo nổi với ngày tháng gian truân, với những bữa ăn chỉ nghĩ đến cái lúc mở vung nồi cơm ra đã ngại. Gạo chả biết ông nhà nước mói từ cái kho nào của cục Dự trữ quốc gia mà vàng ệch, mùi thì... Và để chống cái mùi kinh khủng kia thì chỉ có một cách cho đẫy muối vào rá gạo mà xát. Cũng có nhà có cách riêng để đánh lừa thính giác. Nhớ có lần ghé thăm cô bạn nhà ở khu tập thể trường Đảng cao cấp, lên tới đầu cầu thang đã thấy mùi xôi nếp thơm lừng. Mẹ bạn đem khoe một cây lá nếp mà bà nưng niu hơn cả nhà buôn bán nưng niu cây tài lộc bây giờ. Cây ấy, bố bạn đi công tác vùng cao bê về tặng vợ và con gái, mỗi bữa cơm chỉ cần một lá nhỏ đặt lên chốc nồi, đậy vung lại là cơm gạo hẩm hóa thành xôi mới nếp cái hoa vàng. Đánh lừa được cái mũi, nhưng đánh lừa cái lưỡi ra sao? Câu hỏi trong tôi đến giờ còn nguyên đó. Gạo đấy, ăn với chủ yếu là rau, thế mà vẫn học, vẫn ao ước, vẫn trông chờ, vẫn tin tưởng vào tuổi trẻ của mình, dẫu bụng rỗng và áo vá. Kì diệu thay là tuổi ấy. Kì diệu thay là sức chứa chở khổ ải của dân mình. Nhà thơ Phùng Cung đã nhẫn nhịn trầm ngâm 'trứng nhà ai rán thơm mùi thiếu mỡ' hay 'mùi tép rang hàng xóm thơm nghiêng' chính trong những tháng năm này, có lẽ.


May mà có rau. Phải! May mà có rau. Những như rau lại bán đắt hơn cả thịt ở đất này thì chắc chết. Ở Berlin hay những vùng đông người Việt thì thế nào cũng có người khéo tay khéo chân khéo tính lo việc tự cung tự cấp cho đồng bào. Chứ như cái nơi tôi đang ở đây, thì cũng là thành phố, xứ này chỗ nào chẳng đáp ứng tiêu chuẩn đô thị của dân mình, có muốn thỏa lưỡi và mũi bằng, chẳng hạn, một bữa đậu phụ luộc còn hôi hổi nóng bẻ ra chấm mắm tôm thơm mùi chanh cốm với ớt chỉ thiên, cũng chả mói được ở đâu ra. Cái thứ đậu phụ đóng gói bì bì mặt càng rán càng quắt đen lại ăn vào đâm bực mình. Còn rau tươi? Thì cũng có trong mấy cái tiệm nhỏ của người Ần và người Thái. Cũng cải cũng muống, nhưng tả tơi vàng úa chả khác gì rau mậu dịch quăng từ xe ô tô xuống vỉa hè của cái thời nào. Mà lại đắt. Chẳng bằng cứ xông ra siêu thị, có gì ăn nấy, ê hề.


Tôi có niềm tự hào hôm nay mới ngỏ: Nhờ liều mạng lấy chồng mà đâm ra chăm chỉ khéo tay. Nhưng mà dù có kính con yêu chồng bao nhiêu cũng chả thế nào thật lòng vui thú khiêu vũ cùng xoong chảo mỡ dầu thịt thà rau cỏ. Tuy thế, mùa này, mùa xuân nơi đây chứ chưa phải là mùa hè, chiều chiều đưa con dạo ra phía bờ sông, tôi hay nhòm ngó cây cỏ bên đường. Hoa dại ôm về nịnh ông nhà thì đã hẳn rồi. Còn rau nữa. Ngải cứu, cải soong, chua me đất, vài ba hôm nữa lại có rau dền chen chúc giữa cánh đồng ngô. Bảo là ngon thì chắc chả ngon bằng rau cỏ sáng nay ở bao nhiêu chợ cóc chợ xanh Hà Nội. Nhưng mà tươi lắm, nhiều lắm. Bát canh rau vặt bên đường đã chẳng làm dịu đi nỗi quê nhà mà lại còn làm cho nó thiết tha hơn, nóng ruột nóng gan hơn. Đã hẳn nơi này mở tivi hay computer ra là có thể có ngay cảm giác đang sống tại Việt Nam. Nhân dân điện tử đầy những tin những bài đọc lên cứ có cảm giác lội ngược thời gian về lại thời vặn hay bàn tay mà tin tưởng ông nhà nước. VTV4 với những người dẫn chương trình trẻ, lắm điều và lẫn lộn một cách tuyệt vọng loại từ tiếng Việt như cái chương trình 'Vườn cổ tích' tôi mới được xem cũng làm thỏa nỗi thương nhớ của vô khối người. Kĩ thuật số đã phát triển đến độ quả thật thế giới là làng, quốc gia là xóm. Nhưng những báo những đài những ti vi ấy đã thực là Việt Nam chưa?


Vào những ngày xuân ngày hạ đẹp trời, trên cánh đồng cỏ bên sông, cứ từng quãng lại thấy nổi lên lúc là cái khăn vuông hoa hệt khăn các nữ nông trang viên Liên xô một thời chít trên mái tóc khi vắt sữa khi đảo cỏ và cả khi chơi hội, lúc lại thấy bành bành một cái mông phụ nữ căng muốn rách tấm váy hoa cũng mốt Liên xô trong họa báo phát không ngày xưa ở Việt Nam. Họ đi tầm rau đấy. Lá chua me đất, vàvô thiên lủng những loài rau khác mà với tôi hay với thổ dân thì đều là cỏ dại. Họ là người gốc Đức trở về cố xứ từ nhiều nước cộng hòa, chủ yếu là Trung Á, thuộc Liên xô cũ. Nhìn đám đàn bà loay hoay bới tìm rau cỏ và đám đàn ông lặng lẽ đợi một con cá động cần, chạnh lòng không dám hỏi có phải họ đang tìm lại quê xưa, là một vùng Trung Á nghèo xơ nào đấy chứ không phải đất Đức cái gì cũng nhiều không dám nói nhưng ít thì vô khối này.


Và tôi, khi lang thang cùng con hái vài ba ngọn rau dại mọc bên đường, tôi biết tôi cũng đang trở về. Ra đi là trở lại. Dù muốn hay không. 'Và sẽ thấy Tổ quốc trong một chiều kích mới'. Mới đây, một cậu học trò cũ đánh đường từ Úc sang thăm cô giáo ngày xưa đã nhắc với tôi dòng thư mà tôi không nhớ dù mình là tác giả. Có phải thế thôi đâu em! Ra đi, ta thấy được chiều kích có thể của tâm hồn mình (và nhiều hơn, chán quá, còn là chiều kích cơ thể mình.)


Cải soong trộn thịt bò, dền luộc hay nấu suông với vài ba lá tía tô, ngải cứu thì đúc trứng. Còn rau bí? Thật kém tắm: tôi chưa kể ngay món rau bí quê nhà ở đất này.


Không phải là rau bí thật. Bí đỏ xứ này to như cái thúng, ngọn mập mạp, lá non cứ mỡ ra, nhưng vô duyên vô vị, là thứ rau cho bò chứ quyết không thể là thứ cho người. Nghe nói ở Berlin chợ người Việt bây giờ có rau bí Việt Nam mình thật. Nhưng mà xa xôi quá. Chẳng bằng về với thiên nhiên.


Thằng con bốn tuổi chân tay lúc nào cũng như lắp thêm động cơ có hôm trời mưa tầm tã vẫn hùng dũng dận ủng xỏ đôi găng cũ của bố mời mẹ đi hái lá han về làm món rau bí. Lá han thật, đầy ra ở những triền đê quê xa. Cũng gợi lắm lúc xôn xao hoa trắng tím khiêm nhường nở rồi còn nép kĩ trong nách lá. Nhưng sơ ý rờ phải thì da đỏ ngay lên như phải bỏng, rát chết thôi, đã là nỗi vui cười ra nước mắt của đôi bà đôi chị một thời tung hoành bán thuốc bán quần áo lẻ ở Berlin, những lúc không thể cầm lòng vậy dầu lòng vậy ở chốn thương trường và đành phải ôm bụng liều mình như chẳng có xông vào bụi rậm. Thế mà thứ lá này ăn được, rất ngon. Tôi có tâm hồn ăn uống, song mắc thói lười, nên bây giờ cứ phải chép miệng tự trách mình thiếu máu mạo hiểm, không thử xơi lá han từ bấy lâu nay.


Mà cái giống rau han thì mùa này đến lắm, ngùn ngụt mọc sau mấy ngày xuân mưa lạnh thành từng vầng trên đồng cỏ, dọc bờ sông, nơi xó vườn. Tốt tươi, ngợp mắt, non cứ bấn ra. Hái về mà xào với cà chua và tỏi, chẳng khác gì món rau bí quê mình. Cái món này đáng phải coi là phát hiện mới dành cho đồng bào Việt Nam xa Tổ quốc.


Bạn có nhớ rau bí quê mình? Đấy là món rau nhiều người thích ăn mà đành chịu, vì không có thì giờ ngồi nhặt, hoặc giả vì không biết nhặt. Có lần tôi đã ăn món rau này ở một gia đình người Mường, biết là đặc sản mà không nuốt được. Không hẳn vì không quen. Rau bí nấu với ốc suối để vỏ, hẳn là ở thành phố không thể có, nước ngọt, là lạ mùi tanh mát. Nhưng rau thì cô chủ nhà không tước, vác nguyên con dao bầu chặt thành khúc, tống thẳng vào nồi mà ninh lên. Rau bí mà ninh thế thì cũng chả khác kiểu mấy anh sinh viên da đen luộc trứng vài ba tiếng. Không thể nào nhừ được.


Ngày tôi còn bé như cái kẹo mút dở thì chiến tranh đánh phá. Tôi theo bà tôi đi. Làng xóm thanh bình lắm, mà chẳng may vắt ngang con sông chảy ven làng lại có cây cầu Pháp xây từ đời tám hoánh nào, nối Hà Nội với Hoà Bình. Nên lại thêm một lần bà cháu bỏ nhà lếch thếch kéo nhau vào đồng sâu gần về chân núi. Ông hàng xóm cùng mấy chú con trai dựng giúp cho một cái, không thể gọi là lều, vì lớn hơn lều, quê tôi gọi là chuộn. Vài ba cái chuộn quây lấy nhau giữa đồng không mông quạnh, mấy bà già và dăm ba đứa trẻ dáo dác với nhau. Nước dùng là cái hố bom sát đó, dấu vết trò chơi ác của mấy ông phi công Mỹ không bay được tới mục tiêu hoặc giả không còn mục tiêu oanh tạc. Quanh cái ao bom, bà tôi đặt mấy dây bầu ngô, cắm thêm dàn mướp. Bao nhiêu năm qua rồi, sao vẫn ngụt ngạt thế này trong tâm trí cái mầu nước đỏ sục lên dưới bàn chân những chiều xách gầu theo bà đi tắm rồi nhân thể tưới rau. Màu hoa mướp hoa bầu vàng tin cậy... Màu hoa muồng muồng vàng dại rười rượi nỗi buồn nhớ trẻ con... Và cái màu cam lộng lẫy chớp lên theo cánh bầy chuồn chuồn ngô báo bão dọc đường đồng đến lớp men theo bãi dâu xanh mê man dưới trời trưa cao vắng...


Có cái năm bầu vừa ra quả bằng cái chén thì bão thật. Đến là to. Đêm, chị em nằm chui trong cái chiếu sực mùi nắng bà vừa kéo đắp cho, túm hai dải vú bà, thấy yên ổn qúa, chẳng biết đến nỗi bà lo sau những lần chép miệng nghe tiếng gió hút qua ống nứa đầu hồi. Chỉ hơi hơi sợ cái lúc bão tốc mất nửa mái. Bão vừa tan cơn, trời còn chưa rạng, trong làng đã có người thình thịch chạy ra xem mấy bà cháu Hà Nội thế nào. Đồng mùa rạp mình dưới bão. Nhưng bầu bí của bà thì gió giật quăng lung tung cả. Những ngọn bầu dập, những quả bầu con con bà nhặt nhặnh về tước xơ thật kĩ, luộc lên chấm muối vừng mời mấy ông người làng ra sửa giúp cho có chỗ mấy bà cháu hui hút cùng nhau. Vị bí ngô non ngày ấy mãi còn bùi ngọt. Không thể nào quên. Đến nỗi sau này lớn hơn, đã được về lại phố xưa, đã được bố mẹ tin tưởng giao tiền lo cơm nước hàng ngày, có lúc nào mua rau bí thế nào tôi cũng chọn lấy một mớ già già, để kiếm dăm ba quả bầu non bé bỏng.


Rau bí, tuổi con gái đến mà tự dưng giữa bữa cơm bố lại chép miệng bảo lâu rồi chưa ăn lại thì ngại lắm. Nhặt đến là lâu. Móng tay còn bị đen sì nữa. Chỉ duy nhất một lần tôi hào hứng ngồi bên mớ rau bí. Chiều ấy tháng năm thành phố thiếp đi trong cơn nóng. Chiều ấy có tiếng gõ cửa ngập ngừng mà tôi phấp phỏng chờ. Chiều ấy có ngưòi con trai vốn được mẹ nuông hì hục ngồi nhặt rau bí cho tôi. Và tôi đã im thin thít trong bữa cơm lúc bố chê rau bí hôm nay còn nhiều xơ quá. Đúng thế thật. Vừa bùi vừa bã, chả khác gì món rau bí của người Mường.


Chiều ấy cơn gió nóng, chiều ấy câu chuyện chẳng ra đầu ra cuối bên mớ rau bí nhặt dở, không bao giờ trở lại, dù tôi theo người đến bây giờ. Bây giờ, rau bí của tôi là món lá han non xào cà chua và tỏi. Không phải là món rau ăn tạm theo kiểu lấy Spinat giả làm rau dền của họa sĩ Võ Đình thời sinh viên xóm học Paris đâu.Thật vị rau bí quê mình, chỉ một nỗi là toàn lá. Xin lấy tên tôi làm chứng. Bạn hãy thử đi.


Tháng năm này nhiều khi bận bịu. Nhưng mà khi thằng cu con bốn tuổi của tôi vòi mẹ đi hái lá han, tôi không muốn ngần ngừ. Biết đâu, những ngọn lá han rau bí hôm nay sẽ chẳng trở thành nỗi nhớ, có thể là buồn, nhưng chắc chắn là kì diệu, như những bữa cơm rau ngày cũ của tôi. Biết đâu, nỗi nhớ tơ non ấy chẳng là một chút men thơ, ủ ấp con tôi, làm lung linh trong chú bé của tôi khao khát về những ngày chưa sống.


Lê Minh Hà