Sông vẫn còn chảy mãi

Lê Minh Hà

Anh Bỉnh trạm trưởng nhiều lần cười thằng này chưa nhớn đã già. Chỉ vì Thân trót kể mình hay lọ mọ bò dậy từ lúc trời còn tối đất. Nhưng thực ra anh Bỉnh được lợi vì Thân quen thức như thế. Trước khi Thân về nhận việc thay chị Cúc, bao giờ anh Bỉnh cũng phải đảm đương việc đo nước cữ này.

Đêm nay cũng vậy. Từ xế chiều anh Bỉnh đã dóng tiếng nhờ Thân trực đêm. Bà mẹ vợ anh vừa phải võng xuống bệnh viện huyện trưa hôm trước. "Phải để chị ấy ở nhà đêm hôm với mấy đứa trẻ. Còn tao xuống trông bà. Chú trực giùm anh đận này ... Khi nào bà về ... Tao bảo anh em thằng cu kiếm mớ ếch anh em mình đánh chén, rồi là giải phóng cho chú mày về nhà hẳn một tuần!" Anh Bỉnh cười hơ hơ hơ, chẳng hề áy náy: "Mà chú ở nhà những một tuần làm cái quái gì nhỉ. Lại ngồi như cái đụn ra cho mấy đứa em nó hầu". Tiếng cười hơ hơ hơ ròn rã theo tiếng máy chiếc Honda mới coong chị Bỉnh mới tậu cho chồng xa dần về phía đầu cầu.

Thân đi nằm muộn. Nhưng khi chuông đồng hồ chưa reo Thân đã mở mắt, dỏng tai nghe. Tiếng mấy con gà lục sục đạp nhau trong cái chuồng chật. Tiếng gió giật mấy tàu lá chuối khô lạch phạch ở vườn chuối sau nhà chuyển dần về phía thềm. Và Thân còn có cảm giác nghe được cả tiếng một con bò thở dài từ giữa xóm vẳng lại. "Mẹ với mấy đứa giờ này chắc cũng dậy rồi!" Thân nhìn ra đầu hồi. Trời sương bàng bạc xám. Hình như chỉ ở nhà quê mới có những đêm như thế này. Trời mỏng dần như sắp sáng. Rồi lại tối sầm, tối đến xắt ra miếng được. Rồi rạng lại. Và buổi sáng bắt đầu.

Nhưng với người nhà quê thì buổi sáng bắt đầu không phải từ lúc ấy, lúc mặt trời hắt những luồng sáng hồng rực vào chân những lùm tre bên sông trước khi nhô lên. Như ở nhà Thân chẳng hạn. Đầu tiên là mẹ. Mẹ rón rén nhấc cái nọ đặt cái kia trong bếp. Rồi lửa bập bùng. Mùi cám lợn nồng nồng chua chua phả nóng sực từ bếp lên nhà, đến tận chỗ Thân nằm. Người thức dậy sau mẹ thường là cái Dậu. Nó loạng choạng tụt từ trên giường xuống đất, mắt nhắm mắt mở đi ra bể nước. Tiếng gáo chạm vào mặt nước nghe đùng đục. Tiếng nước chảy xuống rãnh. Con bé có thói quen vừa rửa mặt vừa rửa chân cho tỉnh ngủ. Rồi sau đó là tiếng thóc đổ vào cối. Tiếng cối xay ù ù. Hoặc là tiếng bàn tay nó đập đánh bẹt vào thành chiếc sàng. Con bé học xoàng nhưng ai cũng bảo nhanh nhảu còn hơn mẹ ngày xưa. Hì hục xong được cái lớp chín, nó xin bố mẹ cho nghỉ học, bổ vào làm hàng xáo với mẹ. Gạo thì chở ra chợ huyện. Trấu để rấm bếp. Cám cho lợn. Và tấm dành cho cả nhà. Cơm tấm chạm hơi đánh với cà kháng vắt hột cho tí mỡ om lên Thân và riêng thằng út cũng có thể đánh bay già nửa cái nồi năm.

Cái cảm giác ngon lành ấm áp của bữa cơm đầu ngày ở nhà mất biến khi Thân lò dò ra khỏi nhà, lầm lũi đi dọc bờ đê ướt đẫm sương về phía bến thủy văn, cái bến duy nhất trong làng các bậc còn nguyên vẹn và đặc biệt sạch sẽ. Nhưng người trong xóm lại ít lai vãng. Ai cũng chỉ lên xuống ở bến cũ, nơi lúc nào cũng đầy lá tre rụng và những hàng gạch lát nghiêng từ hồi xửa xưa đã bong lở, lung lay như răng bà lão. Chẳng hiểu sao. Có thể là bến thủy văn của đáng tội trông cũng khí trơ. Chẳng có tre pheo. Trụi thùi lụi độc cái cầu thang xây bằng gạch vôi cát chạy qua hàng xi măng với những bậc hẹp dẫn tới mí nước, nơi lúc nào cũng thấy neo một cái thuyền đinh của trạm, chẳng mui chẳng buồm, lỏng chỏng mấy thứ vật dụng nhà nghề, mạn lại còn sơn mấy vệt đỏ choe choét.

Thân đặt nghiêng bàn chân trên những bậc thang hẹp ấy, lần tới chỗ neo thuyền, tháo dây đẩy thuyền ra chèo ngược lên mạn Thác Bà rồi lại thả xuôi về mạn Tế Tiêu. Công việc đơn giản và đơn điệu. Đo mực nước. Ghi sổ. Lấy mẫu nước về đo độ phù sa. Ghi sổ. Chuyển về trạm chính cho các ông bà kỹ sư ngồi đó mà dự báo. Ba năm trung cấp Thân học đủ thứ, rút cục chỉ làm có vậy hàng ngày.

Thân vào nghề hoàn toàn ngẫu nhiên. Bố giáo viên dạy sinh vật với kỹ thuật ở trường làng, chẳng hiểu thời trẻ thế nào, chứ tới hồi Thân biết thì bố hoàn toàn thờ ơ với việc trường việc nhà. Mẹ đâm dặm đâm dụi với mấy sào ruộng khoán và gánh hàng xáo. Vườn nhà trồng độc chuối là chuối. Chẳng thấy bố dằn vặt với một kế hoạch vườn ao chuồng nào. Mọi việc vào tay mẹ, rồi sau này sẻ bớt sang tay con Dậu. Con bé học dốt nhưng tính giỏi. Ruộng khoán cho thuê lại. Mẹ và con Dậu chuyên làm hàng xáo. Rồi con Dậu thôi không làm đủ các công đoạn xay giã giần sàng, xoay ra buôn gạo từ chợ huyện về Hà Nội. Sáng nó đạp xe đi. Chiều tắt nắng đạp xe về. Vừa đi vừa về, hàng ngày nó phải long nhong trên xe đạp tới bảy tám chục cây số là ít. Thóc cao gạo kém kiểu gì nó cũng xoay xỏa đủ đưa mẹ tiền chợ cho cả nhà và bảo mẹ thôi để lương bố cho bố. Rồi nó tính chuyện làm ăn lớn, ngồi một chỗ mua toàn tôm cua ốc ếch thuê chở lên Vân Đình, chất lên xe ca ra Hà Nội đưa tới các quán cơm gọi là bình dân mà trước đó nó không bao giờ dám lai vãng. Cả nhà mát mặt vì nó và đâm sợ nó - đứa con đường học hành thảm hại nhất nhà. Thân là người khiếp nó nhất dù được cô em cưng chiều nhất bằng tình của đứa con gái chịu thua thiệt dành cho ông anh sẽ sinh niềm hy vọng cho bố mẹ sau này. Chỉ vì một buổi trưa từ trường nhảy xe về nhà, tới Vân Đình, gặp em gái tóc búi ngược, da mặt khô, xoe xóe chửi mấy người khác không chịu co chân tận mặt cho nó dồn các bao gạo vào gầm ghế, rồi sau đó lại thấy cười phe phé với tay phụ lái. Không bao giờ Thân dám để em gái biết mình đã thấy nó trong bộ dạng như thế. Thân sợ nó biết khéo nó phì cười. Từ lâu rồi, cô em không còn giữ cái vẻ cam chịu nhu thuận của đứa con gái chịu thương chịu khó nhiều thua thiệt.

... Đêm nay nước lặng. Thân thả thuyền trôi, đặt cái đèn bão lên sạp thuyền,hý hoáy ghi số liệu vào cuốn sổ trực luôn được anh Bỉnh chăm lo sao cho không nhàu nát. Sương xuống dày hơn. Trời đất tối sầm. Bóng tối sóng sánh tưởng chừng múc được. Thân rùng mình, gấp sổ, vớ sào chống thuyền ngược về bến. Tiếng một con cá nhảy rơi tõm vào dòng nước. Trôi? Rói? Hay cá chày? Nhà cũng nằm ngay trên một triền đê nhưng Thân không thạo cá mú ở sông, chỉ rành rọt độc một loại trắm cỏ. Nhà Thân có cái ao thả trắm cỏ và cữ này là cữ Thân thường dậy cho cá ăn. Công việc ấy Thân quen suốt bao năm, từ hồi học cấp hai. Thế mà một buổi sáng, từ ao quay vào nhà, Thân đã bàng hoàng không hiểu vì sao mình có thể làm mãi sống mãi một nhịp như thế mà không nghĩ ngợi. ấy là lúc đột nhiên Thân nhìn thấy bóng mẹ bóng em lửa hắt nguều ngoào trên vách bếp. Bóng mẹ nhảy nhót, mất đầu. Bóng con Dậu ngồi sàng gạo, biến dạng gù gập, to đoành. Tiếng cá vật nặng nề từ ao vọng lại nghẹn ngang ngực Thân.

Thân muốn đi xa. Nhưng chẳng có lý do gì để đi xa. Hai năm trời, đầu hè, nhận đồng tiền mẹ với em đưa, nhận thêm cái nhìn đầy mong mỏi mà Thân có cảm giác hết sức mệt mỏi của mẹ với em, Thân bò ra Hà Nội, lao đầu học trong các lò luyện thi đại học lúc nào cũng đông nghẹt những đứa nhà quê như mình. Hai năm liền Thân trượt. Bố nhờ bác cả làm ở ty Thủy lợi chạy cho một suất trung cấp. Học ba năm. Rồi Thân được bác xin cho về trạm thủy văn này, dưới quyền anh Bỉnh từ bấy đến nay.

Trạm nằm ở mom sông đầu xóm sát chân cầu nối Hà Nội với Miếu Môn. Gọi trạm cho oai. Thực chỉ là một cái nhà ngói có thềm rất cao nằm nép bên một cái lô cốt Pháp xây từ hồi xửa hồi xưa, từ cửa lô cốt và từ tất cả các lỗ châu mai lúc nào cũng bốc ra mùi phân bò, nằm lảnh khỏi xóm bởi một vườn chuối rộng đằng sau và một gốc nhãn đại phía trước. Người qua lại bờ đê suốt ngày, nhưng chẳng mấy khi có ai rẽ tạt. Chỉ có bọn trẻ chăn bò cứ trưa trưa lại dồn bò vào tránh nắng trong lô cốt và leo trèo tìm những qủa nhãn còi cọc là biết rõ trạm thủy văn có gì và có ai.

Trước khi Thân về, trạm cũng chỉ có hai người. Anh Bỉnh và chị Cúc. Chị Cúc gái già, bình thường rất lặng lẽ, đột nhiên giở chứng mặt mũi vênh vênh váo váo chẳng ai dám động. Đấy là lúc vạt áo chị bắt đầu so le. Thân nghe mọi người xì xào thế thì biết thế, chứ lúc Thân gặp chị Cúc thì thấy khác hẳn. Lúc đó bụng chị đã như cái thúng, bè sang hai bên, kiểu bụng "lại thị mẹt mất thôi" như mẹ vẫn hay nhăn nhó đoán hộ các chị cùng xóm độ trước. Chị Cúc bàn giao cho Thân cái giường cá nhân, cái tủ gỗ tạp, lại cho luôn cả cặp chiếu mới mua và ổ gà mới nở. Mặt chị xanh xao, cổ gầy võ, hơi thở gấp, nhưng mắt cứ rực lên, tươi roi rói: " Thôi em ở lại làm việc với anh Bỉnh. Chị sau kỳ này có khi cũng phải xin ở lại huyện, bằng không được thì về làm ăn với bà với cậu cháu..." Anh Bỉnh dộng dộng cái điếu cày, châm đóm mấy lần nhưng không hút, chẳng nói chẳng rằng...

Chị Cúc nghỉ rồi, anh Bỉnh đột nhiên cực kỳ vui vẻ. Anh chỉ hơi trầm ngâm lúc Thân kể chuyện gặp chị Cúc ở phiên chợ huyện. Chị đi bán táo vườn nhà, gửi Thân mang về cho con anh Bỉnh cả rổ. "Thế là ổn rồi. Mà chị ấy có kể con bé con đã biết làm gì rồi không?" Anh Bỉnh hỏi rồi đột ngột im bặt. Mãi tận đến lúc đi đo nước đêm Thân mới sực băn khoăn sao anh Bỉnh lại biết chị Cúc đẻ con gái.

Thân về thay chị Cúc vậy là đã ba năm. Tháng hai lần, đổi giờ trực với anh Bỉnh, Thân đạp xe về nhà. LàngThân cũng nằm ngay bên bờ con sông này. Nhưng cả làng có lệ dùng nước ao. Tắm rửa giặt giũ có ao đình. Ăn uống thì có cái ao nhỏ thả bèo tấm, nước trong vắt. Bãi sông mênh mông cát, bát ngát tre, ít người qua lại. Chẳng mấy ai để ý bờ bên kia thế nào. Từ ngày về trạm thủy văn này, làm việc cùng dòng sông, sống cùng sông, Thân hay ngóng về phía bờ kia. Chiều nào cũng như chiều nào, bến sông hai bờ đều nhốn nháo người. Tiếng người lao xao vọng qua vọng lại. Có lẽ, người hai bờ đều quen hết mặt nhau. Quen mặt. Nhưng chả ai quen ai. Bao đêm một mình đi đo nước trở về, Thân bắt gặp mình cứ nghĩ mãi về điều ấy. Bao năm rồi như thế? Bao nhiêu năm rồi con người sống với dòng sông, trẻ con hai làng bơi qua bơi lại hai bờ, nhưng dân hai làng không ai cần biết ai. Điều đó làm Thân kinh ngạc.

Anh Bỉnh cười khì khì khi nghe Thân kể về nỗi lạ lùng của mình. "Thằng em đúng là dở người" - Anh Bỉnh bảo - "Tao chưa nghe ai trong cái làng này thắc mắc như mày. Mày rồi sẽ tậm tịt cả đời vì cái trò lãng mạn nửa mùa này. Cố mà nghĩ cách chuồn khỏi bến sông này đi thì tốt hơn. Đừng để như anh mày

đây..."

Anh Bỉnh cứ cười khì khì, bắn một bi thuốc lào ròn tanh tách. Nhưng mặt buồn rũ rượi. Trông cực vô lý. Anh Bỉnh người thị xã, về trạm lúc trạm mới xây. Tý toáy tình tang thế nào không rút cẳng ra được tình yêu của cô giáo viên vỡ lòng xã. Cải cách giáo dục, bỏ lớp vỡ lòng, giáo viên vỡ lòng được nâng cấp thành giáo viên lớp một. Nhưng chị vợ anh không thiết. Chị ra dựng luôn một cái quán ở đầu cầu, đặt cái máy may, nhận may vá áo cho cả ba làng nằm ở ngã ba sông. Anh Bỉnh có lần bảo Thân: "Chú thắc mắc không biết bên kia sông người ta sống thế nào thì cứ ra quán mà hỏi chị. Chị chú biết hết dân ở đây đấy. Làng nào mà chả như làng nào. Giờ đang lao đao vì hụi. Thằng em con chú chị ấy hôm kia tận đâu qủa lựu đạn định đi ăn thua đủ với người giật hụi. Cả nhà xúm vào can khóc như cha chết. Chủ nợ thành con nợ. Mẹ kiếp... Tính giết nhau. Mà nhìn quanh toàn trong họ ngoài làng. Chị mày là tao cấm ngặt. Năm nay nước lên sớm thế này...Khéo rồi gạo kém. Rồi trấu cũng chả có mà nhai đừng nói ủ bếp...Hụi với chả hè..."

Anh Bỉnh có cái kiểu nói năng như thế. Lúc thì cực trắng trợn. Lúc lại cực dịu dàng. Khi Thân kể cho anh Bỉnh nghe về cô bạn học con ông phó chủ tịch huyện, anh Bỉnh mắng thẳng mặt Thân. "Mày ngu lâu khó đào tạo mất rồi. Mặt nó có to như cái giần, trứng cá có dày như bánh đa kê thì cũng có sao. Mặt thế dễ đẻ, mày trẻ ranh không biết. Cái chính là nó mê mày. Bao nhiêu thằng mong ỷ chim lập nghiệp! Mỗi mình mày...." Rồi anh thở dài đầy vẻ ngán ngẩm, chuyển giọng nửa khinh bỉ nửa chọc ngoáy. "Anh có kinh nghiệm này truyền cho thằng em: Bố mẹ nghèo hèn thì không phải lỗi tại mình, nhưng bố mẹ vợ nghèo hèn thì mình không chạy tội được. Mà đã rơi đánh phịch vào trong cái cảnh ấy thì chỉ còn có mỗi cách thoát là ... chơi hụi."

Hụi cũng đang như bão thổi qua làng Thân. Con Dậu vỡ hụi, ngồi một đống ở nhà không dám bước ra khỏi ngõ. Mẹ phải gỡ cả đôi khuyên trên tai con út để trả nợ đậy cho nó. Nhà Thân đúng là chỉ còn độc một cái xác nhà mà nếu không phải do bố mẹ làm chủ thì khéo đến nước người ta vác xà beng đến đào cả móng lấy gạch mang về. Thân không nói với anh Bỉnh, nhưng cuối tuần rồi đã theo bố đến nhà ông bác nhờ ông lo cho một xuất đi Tây. "Không được Đức thì phải chịu. Nhưng anh cố sao cho cháu không phải đi Liên Xô." Ông giáo làng lần đầu tiên tỏ ra thiết tha với sự nghiệp của thằng con.

... Lúc Thân đẩy thuyền về bến, mặt trời đã lấp ló dưới chân tre làng bên. Sương đã gần tan hết. Nhưng mặt sông vẫn còn phủ một làn hơi xám mong manh. Dưới bến sông đầu xóm, mấy dáng người đang lúi húi. Một bà xởi lởi "Anh thủy văn đo nước về sớm nhẩy?" và Thân mau mắn "Các bà hôm nay không ra đồng?"

... Thân trả lời, nhưng tâm trí dồn hết vào dáng đứa con gái đang vén quần lội xuống nước. Cô bé ở ngay ngôi nhà sát vườn chuối sau trạm thủy văn, vẫn quảy đôi thùng sang xin nước mưa ở trạm những khi sông đục nước lên. Cô bé trông thật khác bọn con gái nhà quê cùng lứa. Da trắng. Mắt to. Mũi thẳng. Anh Bỉnh có lần xúc động: "Nó là con thằng cha y sỹ ở trạm xá đấy. Thằng cha có tới ba thằng ông mãnh con. Mà sợ vợ không dám nhận nó. Cứ nhìn thấy bố là con bé len lén len lén lảng, không thì chạy hộc tốc xốc gan. Mẹ nó phải mỗi tội thọt, chứ người ấy nết ấy thì... Hồi trước nhìn mẹ nó bế con đi trên đường làng, mẹ tập tễnh, con như cái dải khoai, thế mà giờ nó đã xốc vác đỡ mẹ được bao nhiêu việc..." "Rồi nó còn xinh hơn cả mẹ" - chị vợ anh Bỉnh lườm chồng - "Làm cái thân đàn bà thật là tội nợ".

Cái tội nợ ấy chưa in được một dấu vết gì lên dáng hình cô bé. Cô bé đang giặt chiếu. Cái chiếu trải rộng, dập dềnh trên mặt sông sát bắp đùi nó. ánh mặt trời chan hòa trên bến sông, trong sóng nước, chan hòa trên cái thân dáng mảnh mai. Nó đứng thẳng người, không để ý cái chiếu dập dềnh trôi ra xa, nhìn thuyền Thân trôi ngang, nhìn sang bờ kia, nhìn trời, háo hức. Thân lạ lùng nghĩ mình sẽ nhớ nó, khi rời bến sông này, đất nước này, tới một thành phố, chắc thế, phải là một thành phố, của một đất nước xa xôi. Nỗi nhớ tưởng tượng làm lòng Thân dịu dàng thắt lại, khi Thân buộc thuyền, lên bến, đi dọc bờ đê còn ngai ngái cái mùi tươi mát của cây dại ướt sương. Sông có ngừng trôi đâu. Sông sẽ còn chảy mãi.

Lê Minh Hà